Hiển thị các bài đăng có nhãn Vitamin A. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vitamin A. Hiển thị tất cả bài đăng

Bổ sung vitamin cho trẻ như thế nào?

Vitamin (còn gọi là sinh tố) là những chất dinh dưỡng cần thiết được cung cấp hàng ngày để cơ thể phát triển và hoạt động bình thường. Tuy lượng cung cấp nhỏ, thậm chí rất nhỏ, nhưng số vitamin cần thiết lại lên đến con số 13, gồm 4 vitamin tan trong dầu là A, D, E, K và 9 vitamin tan trong nước như vitamin C, các vitamin nhóm B (B1, B2, B5, B6, PP.). Vì thế việc lựa chọn thuốc bổ sung vitamin không đơn giản.

Do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ khi tắm nắng thích hợp để biến tiền vitamin D thành vitamin D), nên ta phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin. Nếu hàng ngày, ăn uống đầy đủ chất, với 600g thức ăn ta sẽ được cung cấp khoảng 1g vitamin.

Hiện nay, việc nghiên cứu về tác dụng của vitamin đã có nhiều bước tiến mới. Ngoài chức năng dinh dưỡng, nhiều công trình khoa học còn ghi nhận chức năng sinh hóa mới của một số vitamin. Vitamin K có thêm chức năng tham gia chuyển hóa calci, vitamin D tham gia vào chức năng miễn dịch (tức sự đề kháng) của cơ thể, vitamin B6 tham gia điều hòa các chất sinh học có cấu trúc steroid (như hormone sinh dục) v.v... Ðặc biệt, có 3 vitamin được công nhận có tác dụng chống oxy hóa là vitamin C, vitamin E, beta-caroten (tức tiền vitamin A). Ðây là những vitamin có thể vô hiệu hóa các gốc tự do (là các chất có hại cho cơ thể) giúp bảo vệ tế bào, mô, phòng ngừa một số bệnh, làm chậm quá trình lão hóa.

Những đối tượng nào cần bổ sung?

Nếu hàng ngày ta ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ thì không sợ thiếu vitamin. Ðặc biệt, nên tăng cường rau cải, trái cây các loại cho bữa ăn vì đây là nguồn vitamin thiên nhiên rất tốt. Nên lưu ý một số đối tượng có nguy cơ thiếu vitamin như người ăn kiêng, người bệnh (nhiễm khuẩn, bỏng, phẫu thuật), người cao tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người nghiện rượu, hút thuốc nhiều... Riêng đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, đương nhiên phải được bổ sung vitamin; hoặc trẻ sau giai đoạn bị bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy...) thì việc uống thêm vitamin là cần thiết.
Trẻ bình thường có cần bổ sung vitamin?

Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và tình trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản chế biến thực phẩm không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn...). Vì vậy nhiều khi bác sĩ vẫn khuyên cho những trẻ xem ra khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Còn với trẻ béo phì, bác sĩ thường khuyên nên ăn chế độ ít chất béo và cần thiết phải bổ sung các vitamin, vì chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K.

Những lưu ý khi bổ sung vitamin cho trẻ

- Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm.

- Trong các loại vitamin, vitamin A và D không được dùng thừa, dùng quá liều vì sẽ tích lũy lại trong cơ thể và có thể gây ngộ độc. Nếu dùng loại Multivitamin ngày uống 1 viên thì không được chứa quá 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và không quá 400 IU vitamin D. Nếu dùng loại dung dịch uống, phải lấy số giọt hoặc thể tích (số ml) theo đúng bản hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu.

- Không nên dùng vitamin C liều quá cao (hơn 1g/ngày) vì có thể gây tiêu chảy, loét đường tiêu hóa, sỏi thận khi dùng dài ngày.

TS. Nguyễn Hữu Đức

Rau quả cho trẻ em

Rau củ quả là nguồn thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ… nên vừa có lợi cho sức khỏe, vừa giúp phòng chống bệnh tật.

Hãy khám phá nguồn dinh dưỡng tuyệt vời của 10 loại rau củ được xem là bổ dưỡng nhất trong “thế giới” rau hiện nay.

1. Cà rốt

Một ly cà rốt tươi chứa đến 34.317 IU vitamin A. Trong cà rốt cũng rất giàu beta carotene (hay còn gọi tiền vitamin A), giúp bảo vệ mắt và ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư. Loại cây ăn củ này còn chứa nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất khác như: vitamin B, C, K, chất xơ, kali, mangan, phốt pho, magiê, folate.

2. Khoai lang

Khoai lang nướng lò cả vỏ cũng dồi dào nguồn vitamin A, beta – carotene và các chất chống oxy hóa. Ngoài ra, trong khoai lang còn chứa vitamin B6, vitamin C, khoáng chất đồng, sắt, mangan, kali, chất xơ. Đặc biệt khoai lang tím là loại khoai giàu antoxian và các hoạt chất chống oxy hóa nhất.

3. Cà chua

chua còn giàu dưỡng chất hơn với khoảng trên 20 loại vitamin và khoáng chất. Một ly cà chua chín đỏ có thể cung cấp cho bạn số lượng lớn vitamin A, C và K. Bên cạnh đó cà chua cũng chứa kaki, mangan, crôm, vitamin B1, B6, folate, đồng, sắt và nhiều dưỡng chất thiết yếu khác.

Đặc biệt, hàm lượng lycopene cao trong cà chua còn là chất dinh dưỡng thực vật quan trọng có khả năng chống oxy hóa và chống ung thư.

4. Đậu nành

Đậu nành là một trong những loại thực phẩm giúp tăng cường sức khỏe được giới nghiên cứu đánh giá là tốt nhất trên thế giới hiện nay. Một ly đậu nành (đã nấu chín) có thể cung cấp cho cơ thể bạn rất nhiều dưỡng chất cần thiết như: protein, mangan, tryptophan, và hơn 10 loại chất dinh dưỡng quan trọng khác bao gồm: axít béo Omega-3, chất xơ, kali…

Chỉ cần một ly đậu nành, bạn đã bổ sung được hơn 50% nhu cầu protein cần thiết cho mỗi ngày.

5. Măng tây

Măng tây từ xa xưa đã được y học cổ truyền công nhận có tác dụng phòng chữa được nhiều bệnh như: tim mạch, cao huyết áp, ung thư, đái tháo đường, viêm bàng quang… Chồi măng tây màu xanh là nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng nhất. Một chén măng tây luộc cũng có thể cung cấp một nguồn tuyệt vời vitamin A, C, K, folate.

Măng tây còn chứa hơn 10 loại vitamin và khoáng chất, trong đó có vitamin B tổng hợp, kali, chất xơ…

6. Ớt chuông

Ớt chuông với bề ngoài bóng đẹp, màu sắc sinh động (xanh, đỏ, tím, vàng…) vừa dùng để ăn, vừa dùng trang trí trong các bàn tiệc.

Ớt chuông đa sắc màu và cũng đa dinh dưỡng. Một chén ớt chuông tươi, sắt mỏng có thể cung cấp cho bạn khoảng 5.244 mg vitamin A (đáp ứng hơn 100% nhu cầu cần thiết hàng ngày).

Đây cũng là một nguồn cung cấp vitamin C, B6, chất xơ, mangan, folate cực kỳ tốt.

7. Rau bina

Dinh dưỡng trong rau bina phải nói là đáng tự hào với cả kho hơn 35 loại vitamin và dưỡng chất thiết yếu.

Một chén rau bina luộc có thể giúp bạn bổ sung được khoảng hơn chục chất dinh dưỡng. Đáng ngạc nhiên hơn là nó còn cung cấp cho cơ thể hàm lượng vitamin A gấp 3 lần nhu cầu cần thiết hàng ngày và hơn 1.000% lượng vitamin K khuyến cáo đòi hỏi cần bổ sung mỗi ngày vì trong đó chứa tới 1.023 mcg vitamin K. Ngoài ra nghiên cứu còn tìm thấy trên loài rau xanh sậm lá này chứa nhiều flavonoid, một hợp chất có tác dụng chống độc tố, chống oxy hóa cao.

8. Cải bruxen

Cải bruxen - một loại bắp cải nhỏ rất giàu vitamin E, canxi, đồng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng chế độ ăn rau thuộc họ cải cao như cải bruxen, súp lơ, bắp cải, cải hoa… có thể làm giảm nguy cơ một số bệnh ung thư (ung thư phổi, ruột kết, ung thư vú, ung thư buồng trứng).

Một chén rau cải bruxen luộc cũng cung cấp cho bạn nguồn vitamin C, K, B complex, chất xơ, kali và vitamin A, một trong những chất chống oxy hóa quan trọng tìm thấy trong tự nhiên.

9. Súp lơ

Thành phần dinh dưỡng trong súp lơ rất giàu sắt, kẽm, vitamin E và hơn 20 loại chất thiết yếu khác. Súp lơ có thể ăn sống, luộc, hấp, xào, tuy nhiên việc hấp, xào súp lơ để ăn được khuyên dùng nhiều hơn vì cách thức chế biến này không làm giảm sự hiện diện của các hợp chất chống ung thư chứa trong loại rau này.

Một chén súp lơ có thể cung cấp cho bạn nguồn dinh dưỡng dồi dào vitamin A, C, K, folate, chất xơ, 505 mg kali và 102 mg phốt pho.

10. Cải xoăn

Trong cải xoăn cũng chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng và chất chống oxy hóa. Một chén rau cải xoăn nấu chín, luộc, để ráo nước, không cho thêm muối chứa 1.062 mcg vitamin K và 9.620 IU vitamin A (đáp ứng gấp đôi nhu cầu lượng vitamin cần thiết mỗi ngày).

Ngoài ra, cải xoăn còn rất giàu vitamin C, mangan, chất xơ, đồng, canxi, kali, các chất dinh dưỡng từ thực vật như glucosinolate và flavonoid, lutein, zeanthin. Theo Phụ Nữ

Bé sơ sinh - 5 tuổi: Vitamin A - Vitamin D3 - Vitamin E liều bao nhiêu



Vitamin rất cần thiết, nó có tác dụng duy trì các quá trình chuyển hóa bảo đảm sự sinh trưởng và hoạt động bình thường của cơ thể. Tuy nhiên, cũng như các loại thuốc khác, vitamin là con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng bừa bãi, nó có thể gây ra những tác hại đối với cơ thể chúng ta.

Đặc điểm của vitamin tan trong dầu và nhu cầu của cơ thể

Vitamin tan trong dầu hấp thu cùng với các chất mỡ, vì vậy khi cơ thể không hấp thu được mỡ thì không hấp thu được những vitamin này. Quá trình hấp thu đòi hỏi phải có acid mật làm chất nhũ hóa vì mỡ không tan được trong máu, để thuốc hấp thu tốt thì nên uống trong hoặc sau bữa ăn. Khi dùng quá liều, các vitamin này không thải trừ hết qua thận mà tích lũy chủ yếu ở gan và mô mỡ, do đó khi dùng liều cao và kéo dài sẽ gây độc tính, đặc biệt là vitamin A và D. Do tích lũy trong cơ thể nên các triệu chứng thiếu thường xuất hiện chậm, vì vậy không cần bổ sung hàng ngày dưới dạng thuốc. Các vitamin này tương đối bền vững với nhiệt, không bị phá hủy trong quá trình nấu nướng.

Nhu cầu hàng ngày về vitamin tan trong dầu đối với người bình thường phụ thuộc vào lứa tuổi, cụ thể: với trẻ dưới 1 tuổi, nhu cầu vitamin A là 1.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 5IU/ngày; với trẻ từ 1 - 4 tuổi, nhu cầu vitamin A là 2.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 10IU/ngày; với trẻ trên 4 tuổi và người lớn, nhu cầu vitamin A là 5.000IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày và vitamin E là 30IU/ngày.

Bổ sung vitamin tan trong dầu như thế nào?

Các vitamin luôn có sẵn trong ngũ cốc và thực phẩm, vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hóa (tiêu chảy, tắc mật, viêm tụy, loét dạ dày - tá tràng...) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không nhất thiết phải bổ sung dưới dạng thuốc.

Khi thiếu vitamin nhẹ có thể điều trị bằng cách ăn các thực phẩm có chứa nhiều vitamin. Vitamin A có nhiều trong gan cá thu, trứng, thịt, cá, sữa, gấc, cà chua, cà rốt và rau xanh. Vitamin D chủ yếu có trong thức ăn từ động vật: sữa, bơ, gan, trứng, thịt. Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật: dầu cám, dầu lạc và trong các hạt nảy mầm, rau xanh; có một lượng nhỏ trong lòng đỏ trứng gà, gan...

Việc bổ sung vitamin dưới dạng thuốc chỉ khi thiếu trầm trọng hoặc trong trường hợp chưa có điều kiện thay đổi chế độ ăn. Thường thì ít có hiện tượng thiếu đơn độc một chất, vì vậy việc bổ sung vitamin dưới dạng hỗn hợp có hiệu quả hơn khi dùng các chất đơn lẻ. Tỷ lệ phối hợp các công thức tùy trường hợp thì khác nhau nên khi lựa chọn phải căn cứ vào nguyên nhân gây thiếu để bổ sung cho phù hợp.

Thừa vitamin tan trong dầu - điều gì sẽ xảy ra?

Nhóm vitamin tan trong dầu có thể gây ra tình trạng thừa vitamin nếu lạm dụng thuốc (người bình thường ăn uống đầy đủ vitamin mà vẫn bổ sung vitamin thường xuyên dưới dạng thuốc), ngoài ra gặp trong một số ít trường hợp thừa vitamin cấp tính do ăn loại thức ăn có chứa lượng lớn vitamin tan trong dầu, ví dụ như ăn gan gấu trắng, gan cá thu... Khi lượng vitamin dư thừa quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc thuốc, tùy thuộc vào loại vitamin dư thừa mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau:

Vitamin A

Vitamin A dùng thừa sẽ xuất hiện các triệu chứng: ngứa da vẩy nến, sung huyết ở da và các niêm mạc, tóc khô, xơ xác, dễ gãy, chán ăn, buồn nôn, giảm prothrombin, chảy máu và thiếu máu.

Trẻ em dưới 4 tuổi thường xuyên uống vitamin A có hàm lượng lớn hơn hoặc bằng 5.000 IU/ngày có thể bị ngộ độc mạn tính với triệu chứng đau xương, ban đỏ, viêm da tróc vảy, viêm miệng... Nếu dùng liều vitamin A lớn hơn hoặc bằng 100.000 IU/ngày có thể gây phồng thóp, co giật, tăng áp lực sọ não.

Phụ nữ có thai dùng kéo dài vitamin A > 5.000 IU/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.

Vitamin D

Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích luỹ thuốc, làm tăng calci trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra còn có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp.

Trẻ em dưới 1 tuổi được cho ăn các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều > 400 IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi khỏe mạnh làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong.

Vitamin E

Thừa vitamin E, dùng liều cao trên 3.000 IU/ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, đầy hơi, tiêu chảy, đau đầu, chóng mặt, viêm ruột hoại tử. Tiêm Vitamin E liều cao vào tĩnh mạch dễ gây tử vong.

Vì vậy, để tránh thừa vitamin cần chú ý:

Thận trọng khi sử dụng các chế phẩm hàm lượng lớn hơn 5 lần nhu cầu hàng ngày.

Khi dùng thuốc ở dạng hỗn hợp vitamin thì phải phân biệt các công thức dành cho trẻ em dưới 1 tuổi, cho trẻ dưới 4 tuổi và cho người lớn (tính từ 11 tuổi trở lên).

Đường đưa thuốc ưu tiên trong mọi trường hợp là đường uống. Đường tiêm chỉ dùng trong trường hợp không hấp thu được bằng đường tiêu hóa (nôn nhiều, tiêu chảy...) hoặc khi cần bổ sung gấp vi chất và trong nuôi dưỡng nhân tạo ngoài đường tiêu hóa.

Như vậy, không nên lạm dụng vitamin, đặc biệt là vitamin tan trong dầu. Tốt nhất nên tham khảo ý kiến và tuân thủ chỉ định điều trị của các nhân viên y tế khi bạn dùng vitamin.

Nguồn: Sức khoẻ và đời sống