Để có thể phòng ngừa trẻ bị lây nhiễm những bệnh từ mẹ, phụ nữ khi có ý định mang thai cần kiểm tra, xét nghiệm và tiêm ngừa trước. Nên điều trị dứt các bệnh viêm nhiễm trước khi mang thai. Sau khi trễ kinh 2 tuần, chị em cần đi khám thai sớm để xác định có thai hay không cũng như làm 1 số xét nghiệm phát hiện bệnh lý của mẹ để kịp thời xử lý. Khám thai theo đúng lịch hẹn của bác sĩ. |
Làm mẹ, không khéo thu vén, chị em sẽ luôn phải gồng mình với một ‘đống việc’...
Lần đầu làm mẹ, chị em không khỏi lúng túng trong việc cân bằng giữa thời gian chăm sóc con và thư giãn, nghỉ ngơi của chính bản thân. Không khéo sắp xếp, chị em sẽ luôn phải căng cơ, gồng mình với một ‘đống việc’...
Học tập những bí quyết làm mẹ sau đây để 'giảm tải' áp lực cho chính mình bạn nhé!
1. Tìm kiếm đồng minh: Xung quanh các bà mẹ luôn có những người thân, bạn bè, đặc biệt là "một nửa yêu thương" sẵn sàng ‘chung tay, sát cánh’ để sẻ chia, đưa ra lời khuyên hay giúp đỡ khi cần. Vì vậy, đừng ‘ôm rơm rặm bụng’, đơn độc chăm con. Hãy mở lòng, tâm sự với mọi người về những khó khăn bạn gặp phải và yêu cầu được trợ giúp, chia sẻ trách nhiệm. Hơn thế nữa, ngày nay có rất nhiều các diễn đàn hay web làm cha mẹ được mở ra để chị em chia sẻ kinh nghiệm hoặc dốc bầu lo lắng… đây là nguồn tốt để học kỹ năng chăm sóc và nuôi dạy con.
2. Đừng quá lo, hãy lên lịch trước: Đừng cuống lên khi chỉ vừa thấy con khò khè, khó chịu…Trong tất cả mọi chuyện, bạn cần hết sức giữ bình tĩnh. Ngoài ra, hãy học ‘giảm tải’ gánh nặng cho mình bằng cách sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc. Làm việc theo lịch trình sẽ giúp bạn không phải ‘vắt óc’ suy nghĩ cách đối phó với những tình huống ngoài mong muốn nhiều.
3. Không tham việc: Đừng tự dằn vặt bản thân, ‘vò đầu bứt tai’ và căng thẳng vì cảm giác làm mãi cũng không hết việc. Lỗi là tại bạn đã quá tham lam khi việc gì cũng muốn làm và hoàn thành xuất sắc. Sẽ còn đó quần áo chưa giặt, bát chưa rửa và nhà chưa lau… nhưng khi đã mệt, hãy tạm quên đi những bộn bề đó.
4. Tự chăm sóc bản thân: Nếu bạn muốn chăm sóc con cái một cách tốt nhất thì trước tiên bạn phải quan tâm và ‘chiều chuộng’ chính bản thân mình. Chế độ dinh dưỡng và vận động nhẹ như đi bộ… chính là nhân tố then chốt giúp bạn luôn tràn đầy năng lượng từ ‘vươn thở’ đến ‘tiếng thơ’.
5. Nghe lời khuyên của người từng trải: Đôi lúc mẹ và mẹ chồng sẽ khiến bạn khó chịu vì những lời nói nên thế này, không nên thế kia... Nhưng đừng đánh giá thấp lời khuyên của họ. Hãy nhớ, họ đã khá thành công trong việc nuôi nấng bạn và ông xã để được như ngày hôm nay.
6. Lọc thông tin theo ý chí: Trong trường hợp có quá nhiều ý kiến, gây “nhiễu thông tin”, bạn phải biết chọn lọc điều gì đúng nhất, tốt nhất cho con mình. Hãy tin vào kiến thức và bản năng của người mẹ và nói chuyện với bác sĩ nhi nếu bạn cảm thấy có khúc mắc hay điều gì đó bất ổn.
7. Thư giãn: Một ngày, bạn hãy dành ra một chút thời gian để hít thở và quên đi trách nhiệm làm mẹ. Nhờ chồng hoặc người thân chăm con và tận hưởng những thú vui như: đọc sách, nghe nhạc... như thời còn son rỗi.
| |
Giai đoạn 11-13 tuần của thai kỳ được cho là thời điểm dễ phát hiện được hội chứng Down ở thai nhi. Tuy nhiên, việc phát hiện còn phụ thuộc nhiều yếu tố, từ máy móc đến con người.
Không dễ phát hiện
Siêu âm phát hiện bệnh down không phải dễ vì phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người siêu âm và độ phân giải của máy siêu âm, theo BS Lê Thị Hồng Lam, chuyên về siêu âm ở Bệnh viện Saint Paul (Hà Nội).
“Những bác sĩ mới vào nghề thường chưa đủ kinh nghiệm để có thể phát hiện được bệnh Down trên siêu âm. Cũng có thể họ chưa trang bị đủ lý thuyết về bệnh học”, BS Lam chia sẻ sau khi một sản phụ 39 tuổi mới đây gửi đơn lên Thanh tra Sở Y tế TPHCM khiếu nại về việc Bệnh viện quận Bình Thạnh đã không phát hiện ra hội chứng Down ở thai nhi khi bà khám thai tại đây.
Bình thường, con người có 46 nhiễm sắc thể (23 cặp), một nửa số này thừa hưởng từ cha, nửa kia thừa hưởng từ mẹ.
Trẻ bị bệnh Down thường có 47 nhiễm sắc thể vì có đến ba nhiễm sắc thể thứ 21 (hiện tượng nhiễm sắc thể tam đồng). Chính nhiễm sắc thể dư này phá vỡ sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ.
“Phụ nữ từ tuổi 35 có nguy cơ sinh con mắc bệnh Down và tỷ lệ mắc càng cao đối với phụ nữ nhiều tuổi”, BS Lam với 12 năm kinh nghiệm siêu âm khẳng định.
Bệnh thường có nhiều biểu hiện bất thường về hình thái và chức năng như trương lực cơ thấp; mũi nhỏ, sống mũi thấp; đôi tai nhỏ, dị thường, kém mềm mại; nếp gấp ở trung tâm lòng bàn tay sâu và đơn độc; tăng động khớp; khớp trên và dưới đốt giữa của ngón thứ năm (ngón út) cứng; nếp quạt (một xếp da gấp thẳng đứng từ mi trên bao phủ góc mắt phía trong giống như mắt người Mông Cổ (điều này là bình thường với tộc người Mông Cổ nhưng là bất thường ở người bệnh Down); khoảng cách giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai quá rộng; lưỡi quá to so với miệng.
BS Lam cảnh báo, nếu những trường hợp này không được phát hiện kịp thời, bé được sinh ra có thể tử vong hoặc chậm phát triển, khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày...
Chẩn đoán trước sinh giúp bác sĩ phát hiện và xử trí kịp thời một số bất thường về mặt hình thái (thai vô sọ, thai thiếu chi, não trước không phân chia, dị dạng tim, khuyết hàm) và những dị dạng mang tính di truyền (tế bào không trưởng thành, bất thường về nhiễm sắc thể). Vì vậy, việc quản lý thai nghén tốt là một trong những yêu cầu của chẩn đoán trước sinh.
Khi nào nên khám?
Bình thường, thời điểm bắt đầu khám sàng lọc trước sinh từ khi thai 11-13 tuần, nhưng tốt nhất là đúng 12 tuần. Các thời điểm tiếp theo sẽ là 20 - 22 tuần; 30 - 32 tuần.
Đối với bệnh Down, siêu âm kiểm tra thai giai đoạn 11-13 tuần, thường phát hiện được dấu hiệu dày khoảng sáng sau gáy. Hygroma Kystique (dị dạng bạch mạch dạng nang) là triệu chứng khá đặc hiệu trong một số bất thường của bộ nhiễm sắc thể, và là một trong những bất thường thể hiện sớm trong ba tháng đầu của thai kỳ.
Kết quả quan sát trên màn hình siêu âm là vùng da gáy dày, phồng lên từ vài mm đến hàng chục milimét, da đầu dày, da bụng cũng có thể dày. Khi siêu âm thấy hình ảnh này, nhất thiết bác sĩ phải khuyên sản phụ đến chuyên khoa sản sâu hơn để kiểm tra.
Trường hợp Hygroma Kystique lớn, thai nhi có tình trạng hết nước ối, việc chẩn đoán có thể bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn.
Nếu sản phụ bỏ qua thăm khám siêu âm thời kỳ 11-13 tuần, những thời điểm sau, có thể quan sát thấy da dày ở thai nhi, không có sống mũi, khoảng cách hai mắt xa nhau, dị tật tim, và chân tay (đa dị tật).
Đặc biệt, đối với bệnh này, lưỡi của thai nhi to, dày nên miệng thai nhi luôn há. Nhìn chung, trong tất cả bất thường phát hiện được qua siêu âm, cần phải chọc ối làm nhiễm sắc đồ thai nhi.
Theo Tiền phong
Việc bồi bổ cho phụ nữ mang thai là cần thiết để có thể đảm bảo cho sức khỏe của mẹ, đảm bảo cho sự phát triển của thai nhi và chuẩn bị cho kỳ sinh sản đầy vất vả.
Tuy nhiên, nếu việc bồi bổ không đủ có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe của thai phụ và thai nhi. Trong đó việc sử dụng nhân sâm trong thời gian mang thai cũng là một việc làm mà các bà bầu cần hết sức thận trọng.
Ảnh hưởng của việc lạm dụng nhân sâm
Đối với tất cả mọi người
Đông Y cho rằng khi người phụ nữ mang thai thì sẽ mất kinh nguyệt, máu của kinh lạc, phủ tạng sẽ đều được tập trung vào việc nuôi dưỡng thai nhi, toàn bộ cơ thể người mẹ sẽ ở vào tình trạng âm huyết suy, dương khí thịnh. Y học thời cổ đại đã khái quát toàn bộ quá trình biến hóa sinh lý chủ yếu ở người phụ nữ khi mang thai như sau: " Dương thường hữu dư, âm thường bất túc" (ý: dương thịnh âm suy); "khí thường hữu dư, huyết thường bất túc" (ý: thừa khí nhưng thiếu máu), vì thế rất dễ xuất hiện tình trạng "thai hỏa".
Nhân sâm thuộc loại nguyên khí đại bổ, vì thế sau khi mang thai không lâu, nếu người mẹ uống hoặc dùng chúng quá nhiều thì có thể khiến cho khí thịnh còn âm hoa tổn, âm mà suy thì hỏa vượng, đó chính là " khí hữu dư, tiện thị hỏa" (ý nói: khí thừa nhiều sẽ chuyển thành hỏa).
Một bác sỹ ở Mỹ đã từng tiến hành quan sát hơn 100 người dùng nhân sâm một tháng trở lên và đã phát hiện ra rằng họ thường có những phản ứng không tốt như: hưng phấn kích động, mất ngủ, họng khô, đau rát, cảm xúc bị kích động, huyết áp tăng cao… và ông đã gọi hiện tượng này là " các triệu chứng tổng hợp khi sử dụng nhân sâm". Theo Đông y thì những phản ứng không tốt trên đều là phản ánh của hiện tượng "âm suy hỏa vượng".
Theo nhiều ghi chép thì khi cơ thể người nhận quá 100g nhân sâm thì sẽ có hưng phấn. Nếu dùng quá 200g thì sẽ xuất hiện các hiện tượng trúng độc như toàn thân nổi ban, ngứa ngáy, chóng mặt, đầu óc quay cuồng, nhiệt độ cơ thể tăng, xuất huyết… Ngoài ra nếu dùng nhân sâm trong thời gian dài thì sẽ bị bí tiểu, từ đó dẫn đến phù nước.
Đối với phụ nữ mang thai
Nếu người đang mang thai sử dụng nhiều nhân sâm thì sẽ xuất hiện các hiện tượng như nôn mửa, phù nước, huyết áp tăng… thậm chí xuất huyết âm đạo và có thể dẫn đến sảy thai.
Thai phụ cần làm gì?
Tốt nhất với thai phụ trong 3 tháng đầu không nên sử dụng nhân sâm đến tránh những biến chứng như nôn mửa, xuất huyết, sảy thai…
Trong giai đoạn giữa thai kỳ thai phụ có thể sử dụng nhân sâm nhưng cần xin ý kiến của bác sỹ, sử dụng với liều lượng ít (không quá 100g) và sử dụng trong thời gian ngắn, không sử dụng liên tục.
Nếu trong quá trình sử dụng nhân sâm thấy xuất hiện bất kỳ triệu chứng gì như chóng mặt, đau đầu, phù nước nặng hơn, nôn mửa, đặc biệt là xuất huyết thì cần dừng ngay lại và báo cho bác sỹ.
Sinh con dị tật là nỗi ám ảnh của nhiều phụ nữ khi mang thai, nhiều người thậm chí phải bỏ con. Tuy nhiên, một số nguyên nhân gây dị tật thai nhi hoàn toàn có thể phòng tránh được, theo khuyến cáo dưới đây.
Dưới đây bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, Trung tâm Y tế lao động Thái Hà (Hà Nội) đưa ra lời khuyên về những việc chị em nên làm trước khi có bầu để giảm thiểu nguy cơ bị dị tật ở thai nhi:
1. Trước khi có thai
a) 3 tháng trước khi có thai
- Chị em nên tiêm phòng các bệnh như cúm, rubella, viêm gan B... vì nó có thể ảnh hưởng lên thai nhi hoặc lây nhiễm cho em bé sau khi sinh.
Thai phụ mang thai đặc biệt trong 3 tháng đầu mà bị rubella thì gần như 100% phải đình chỉ thai vì trẻ sinh ra dễ bị mù, điếc, dị tật tim, rối loạn thần kinh. Nhưng nếu giai đoạn mắc ngoài 15, 20 tuần nguy cơ thấp hơn nhiều.
Tương tự khi mẹ bị viêm gan B thì có thể truyền bệnh cho con qua nhau thai, với tỷ 20%, thậm chí đến 90% nếu cơ thể người mẹ xét nghiệm thấy có kháng nguyên HBcAg. Một khi trẻ đã bị viêm gan khi sinh thì 90% là chuyển thành viêm gan mãn tính, chỉ có một số ít hồi phục hoàn toàn.
Vì thế, trước khi quyết định có thai chị em nên đi thử máu để xem liệu cơ thể đã có miễn dịch với bệnh hay chưa. Nếu cơ thể đã có kháng thể viêm gan B và rubella thì không cần thiết phải tiêm ngừa hai loại này. Tuy nhiên cũng cần xem nồng độ kháng thể như thế nào, nếu thì thấp thì nên tiêm phòng nhắc lai. Nếu chưa có thì nên chích ngừa để phòng bệnh.
- Nếu đang sử dụng thuốc tránh thai hoặc đang đặt vòng thì dừng uống thuốc, tháo vòng...
b) 2 tháng trước khi có thai
Bạn nên tẩy giun giai đoạn này vì trong lúc có thai không nên làm việc đó. Các bác sĩ thường khuyên mọi người tẩy giun theo định kỳ 6 tháng hoặc mỗi năm một lần, với phụ nữ thì vào lúc chắc chắn chưa có thai là tốt nhất. Tuy nhiên, có nhiều chị em mang thai rồi mới phát hiện nhiễm giun ở mức cần điều trị vì nếu không sẽ có hại cho cả mẹ và con. Trong trường hợp đó, việc cho thai phụ uống thuốc tẩy giun là cần thiết.
c) 1 tháng trước khi có thai:
- Bắt đầu bổ sung viên sắt và axít folic
Sắt và acid folic giúp tạo ra hemoglobin và hồng cầu để vận chuyển oxy từ mẹ tới thai. Axít folic còn giúp chuyển hóa protein, glucid, lipit và đặc biệt tạo ra axit nucleic là nền tảng di truyền của nhân tế bào.
Khi có thai nhu cầu sắt và axít folic tăng gấp khoảng 3 lần nên ăn uống bình thường không thể cung cấp đủ được. Hơn nữa thiếu axít folic trong 3 tháng đầu của thai nghén thì thai có nguy cơ bị khuyết tật về ống thần kinh.
- Nên làm một số xét nghiệm sau: điện tim đồ, xét nghiệm một số bệnh lây qua đường máu, khám phụ khoa...
Nếu phụ nữ bị viêm nhiễm đường sinh dục trước hoặc trong thời kỳ mang thai sẽ khiến vi khuẩn xâm nhập, gây viêm màng ối. Nếu không được điều trị, màng ối sẽ càng mỏng hơn, có thể bị vỡ trong bất cứ giai đoạn nào của thời kỳ thai nghén. Màng ối bị vỡ sẽ dẫn đến nguy cơ bị nhiễm trùng ối, nguy hiểm cả cho mẹ và thai nhi. Đặc biệt là vỡ ối non, rất nguy hiểm vì thai thi còn non tháng nên khó cứu sống, nuôi dưỡng.
2. Trong khi có thai
- Khám và siêu âm ít nhất 4 lần
- Xác nhận thai nằm trong buồng tử cung chưa
- Xác nhận có tim thai khi thai được 7 tuần
- Xét nghiệm vi sinh (tìm nấm, vi khuẩn lậu, giang mai...)
- Xét nghiệm nhóm máu
- Xét nghiệm sàng lọc trước sinh (lấy máu) vào tuần thứ 16-18. Hiện hơn 30 tỉnh, thành trên cả nước đã thực hiện đề án sàng lọc trước sinh. Hai đơn vị đầu mối là Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ.
- Siêu âm tìm dị tật của thai vào các tuần 12-22-32
- Tiêm phòng uốn ván vào tháng thứ 6 hoặc tháng thứ 7
Trước khi có thai, chị em nên đến gặp bác sĩ sản khoa để được tư vấn và làm các xét nghiệm cần thiết.
| |
Thế nhưng, nên biết rằng chế độ dinh dưỡng cũng cần linh hoạt thay đổi để đáp ứng đúng lúc và đúng lượng cho nhu cầu trong từng giai đoạn phát triển của thai nhi…
Ba tháng đầu thai kỳ – Bé và bạn cần gì?
Sự khó chịu của những cơn “nghén” không thể so được với niềm hân hoan đón nhận tin con. Trong giai đoạn này, các cơ quan của bé bắt đầu hình thành, tim bé đã đập những nhịp đầu tiên trước cả khi bạn biết mình mang thai. Cơ cấu bữa ăn nên nhiều chất bột, vừa chất đạm, ít chất béo và nên bổ sung Protein, DHA, Omega 3& 6, Axid Folic, chất sắt, prebiotic (có đầy đủ trong sữa công thức dành cho bà bầu) để bé phát triển tốt nhất.
Ba tháng giữa thai kỳ - Khi các cơ quan của bé bắt đầu hoàn thiện
Tế bào não, tế bào thần kinh của bé đã bắt đầu phân chia và tăng nhanh không ngừng về số lượng; tuyến tiêu hóa, hình dạng phổi cũng dần hoàn thiện. Móng tay, móng chân và các chi của bé cũng phát triển cân đối. Giai đoạn này bạn đã ăn uống ngon miệng trở lại. Chế độ ăn lúc này nên nhiều chất sắt, i-ốt, vitamin C, acid folic, các vitamin nhóm B (có nhiều trong các loại rau xanh đậm, cam quýt…) và canxi (hải sản, các chế phẩm từ sữa). Vấn đề của giai đoạn này là bạn rất dễ bị táo bón do thay đổi hoóc môn, vì vậy cần lưu ý bổ sung chất xơ (Prebiotics) để tăng sức khỏe đường ruột.
Ba tháng cuối thai kỳ - Bé sẵn sàng
Đây là giai đoạn cơ thể bé trở nên hoàn thiện để đến với vòng tay chờ đợi của bạn và gia đình. Não của bé đã trưởng thành và hệ thần kinh bắt đầu điều khiển một số hệ cơ quan. Không những có thể khua chân múa tay mà bé còn có thể xoay người trong tử cung của mẹ, đầu bé dần quay xuống dưới để sẵn sàng ra đời. Cảm giác khó chịu, nặng nề trong giai đoạn này rất dễ khiến bạn mệt mỏi, mẹ nên nhớ uống sữa công thức đều đặn để luôn không ngừng cung cấp dưỡng chất cho cả mẹ và con, chuẩn bị cho việc vượt cạn nhé!
Theo Eva
Để sinh một em bé khỏe mạnh, thông minh, các bậc cha mẹ cần lưu ý từ trước khi mang thai.
1. Đạt trọng lượng “chuẩn”
Việc thiếu cân có thể ảnh hưởng đến sự rụng trứng. Ngoài ra, việc tăng đủ cân sẽ giúp việc mang thai thuận lợi hơn do cơ thể khỏe mạnh, nguy cơ cao huyết áp hay tiểu đường thai kỳ cũng giảm xuống.
Việc năng vận động bằng các bài tập nhẹ nhàng như đi bộ, tập yoga cũng giúp quá trình thụ thai tốt hơn.
2. Tránh xa rượu và thuốc lá
| |
Một số đơn thuốc và dược phẩm an toàn khi sử dụng trong thời kỳ mang thai, nhưng một số thì không. Một số loại thuốc khác thì chưa được xác định rõ có ảnh hưởng hay không. Vì thế bạn thay đổi hoặc ngừng sử dụng cho đến khi bạn sinh xong em bé. Tốt nhất là nên gặp bác sỹ tư vấn ngay lập tức.
4. Gặp nha sỹ
Việc lên kế hoạch khám và làm sạch răng miệng định kỳ 6 tháng/lần không chỉ giảm nguy cơ viêm nhiễm mà còn giúp giảm nguy cơ đẻ non hoặc bị tiền sản giật.
5. Tiêm phòng
Gặp bác sỹ để biết loại vắc-xin nào bạn nên tiêm trước khi thụ thai.
6. Cân nhắc việc kiểm tra gen
Nếu trong gia đình có tiền sử mắc các bệnh liên quan đến gen thì nên đi xét nghiệm máu kiểm tra.
Các độc tố bạn nên tranh tiếp xúc trong thời kỳ mang thai bao gồm thuốc trừ sâu, chất tẩy rửa và sơn và đặc biết là dung môi tẩy sơn. Chúng có chứa rất nhiều hóa chất độc hại liên quan đến những khuyết tật ở trẻ. Vì vậy, nếu bạn cần phải sửa phòng hay tân trang đồ đạc hãy làm ngay từ lúc bạn chưa mang thai và nên để việc này cho các đức lang quân.
Nếu sơn sửa phòng cho em bé, hãy sử dụng loại sơn không có chất độc hại.
8. Bổ sung a-xit folic
A-xit folic là các dạng hòa tan trong nước của vitamin B9, cần thiết cho dinh dưỡng hằng ngày và đặc biệt giúp giảm nguy cơ khuyết tật cột sống ở thai nhi. Nhu cầu về chất này tăng cao ở phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh.
Loại vitamin này rất nhiều trong cải bó xôi và rất nhiều loại ngũ cốc khác nhưng phụ nữ mang thai nên uống vitamin B9 bổ sung để đáp ứng đủ 400mcg/ngày khi chưa mang thai) và 600mcg/ngày khi đang mang thai). Vì thế giải pháp là bạn sử dụng thuốc uống bổ trợ để đảm bảo có đủ lượng vitamin B cần thiết.
9. Hạn chế cafein
Không có tài liệu nào xác định cụ thể sử dụng bao nhiêu chất kích thích mỗi ngày là tốt cho phụ nữ mang thai, nhưng theo các bác sỹ, càng ít càng tốt, khoảng dưới 150 mg/ngày.
Nếu bắt đầu giảm cafein ngay từ bây giờ, bạn sẽ không phải trải qua cảm giác “cai nghiện” trong thời kỳ mang thai. Hơn nữa, chất cafein cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, vì vậy hãy từ bỏ chúng ngay từ bây giờ nếu bạn muốn sớm có thai.
Việc tìm một bác sỹ, người sẽ chăm sóc việc sinh nở của bạn rất quan trọng vì nó tạo cho bà bầu tâm lý thoải mái, tin tưởng.
11. Mang găng tay khi dọn vệ sinh chó mèo
Trong quá trình mang thai, bạn rất dễ nhiễm những bệnh do những động vật ký sinh gây ra do tiếp xúc với chất thải của động vật nuôi trong nhà. Vì thế bạn nên mang găng tay để dọn dep chúng, nếu không hãy nhờ các ông chồng.
Việc nhuộn tóc trong khi mang thai có ảnh hưởng đến thai nhi hay không vẫn đang còn gây tranh cãi. Tuy nhiên nhiều bác sỹ khuyên rằng không nên nhuộm tóc trong thoài gian này.
Nguyên nhân:
Nguyên nhân thường gặp ở các bà mẹ đang cho con bú là do trẻ ngậm bắt vú sai, như: Trẻ không ngậm đủ quầng vú vào miệng mà chỉ mút ở núm vú nên không hút được sữa.
Chính vì vậy mà trẻ lại càng cố gắng đẩy núm vú ra vào nhiều lần khiến da ở núm vú bị tổn thương dẫn tới việc nứt ngang núm vú hoặc nứt xung quanh núm vú.
Khi bị nứt núm vú, nếu không điều trị sớm sẽ dẫn tới viêm vú hay áp xe vú.
Khắc phục:
- Sửa lại tư thế cho con bú để trẻ ngậm bắt vú đúng (ngậm đủ cả quầng vú vào miệng). Tiếp tục cho trẻ bú ở bên vú không đau.
- Sau khi trẻ bú xong, để trẻ tự nhả vú ra sau đó bôi sữa mẹ lên chỗ vú nứt sẽ giúp da mau lành.
- Nếu trẻ chưa bú tốt, bạn nên vắt sữa vào cốc rồi cho uống bằng thìa. Khi mẹ đỡ đau mới cho trẻ bú trở lại.
Theo Giadinh.net
Các bà mẹ có thể cho thai nhi nghe nhạc từ tuần thứ 16 trở lên. Mỗi ngày từ 1 tới 2 lần, mỗi lần thì nên kéo dài từ 20 đến 25 phút.
Ngày nay, chuyện nghe nhạc đã trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu được của các bà mẹ tương lai. Những giai điệu của âm nhạc cũng ảnh hưởng trực tiếp đến những người sắp làm mẹ và tinh thần của đứa trẻ. Các nghiên cứu khoa học tại Trung Quốc và Nhật Bản đã chứng minh: Các bà mẹ khi mang bầu nghe nhiều âm nhạc có lợi cho việc dưỡng thai, đồng thời giảm thấp áp lực của người sắp làm mẹ.Tiến sỹ Minh Châu (Đại học Y) cho biết: Âm nhạc có tác dụng rất tốt cho phụ nữ mang thai như giảm căng thẳng mệt mỏi. Đặc biệt, âm nhạc có tác dụng trong việc dưỡng thai. Mẹ khỏe mạnh, bé sẽ phát triển tốt hơn nếu chọn loại âm nhạc thích hợp cho mẹ và thai nhi. Dưỡng thai có 2 loại âm nhạc: một là cho người mẹ nghe với loại nhạc tao nhã, yên tĩnh; một loại khác cho thai nhi cần nhẹ nhàng, nhanh, sống động. Nhưng vẫn còn tùy vào một số người mang thai, nếu thai nhi đạp tương đối mạnh có thể chọn khúc nhạc nhẹ nhõm, tiết tấu mạnh.
Nghe nhạc vào thời điểm nào?
Tiến sĩ Minh Châu cũng cho biết thêm, nghiên cứa của Giáo sư Chung - Hey Chen ở trường Đại Học Dược Kaohsiung Đài Loan đã chứng minh: Các bà mẹ có thể cho thai nhi nghe nhạc từ tuần thứ 16 trở lên. Mỗi ngày từ 1 tới 2 lần, mỗi lần thì nên kéo dài từ 20 đến 25 phút. Một điều cần lưu ý cho các bà mẹ đó là em bé trong bụng thường ngủ khi người mẹ hoạt động và thức khi người mẹ thư giãn. Vì vậy, người mẹ nên chọn thời điểm nghe nhạc lúc bé thức giấc là thích hợp nhất vì lúc này bé có thể cảm nhận được âm nhạc từ mẹ nhiều hơn. Các bà mẹ có thể chọn thời điểm nghe nhạc vào trước lúc đi ngủ hoặc lúc thư giãn trên giường hoặc trong buồng tắm.
Nghe nhạc gì?
Chúng tôi xin giới thiệu một số album tốt cho phụ nữ mang thai như sau:
- Album “Phép màu nhiệm cho con”: Album này là lời nhắn gửi đầy yêu thương, dịu dàng và ý nghĩa cho đứa con của bạn. Bé cảm nhận được tình cảm và sự yêu thương của lòng mẹ. Vì thế, cảm xúc của bé phong phú hơn.
- Album “Baby Bach”: Album này mang màu sắc của thế giới thực, cuốn hút bé qua thị lực và thính lực. Âm nhạc phóng khoáng, tràn đầy năng lượng, lòng hăng hái và sự tự do. Album có tác dụng nâng cao trí thông minh và phát triển khả năng hội họa.
- Album “Baby Mozart”: Album này cónhững giai điệu mang nhiều màu sắc, hình ảnh, tình cảm sẽ kích thích trí thông minh, khả năng nhận biết cảm xúc trước khi bé chào đời.
- Album “Baby Chopin”: Khả năng nhận cảm thế giới bên ngoài của thai nhi phong phú hơn với những âm thanh du dương, vui sáng, trong trẻo, tinh khiết.
Cách nghe nhạc
Nhiều bà mẹ băn khoăn không biết nên nghe nhạc thế nào cho đúng, để không ảnh hưởng tới bé cũng sức khỏe của mẹ. Hiện nay, các bà Bầu đang áp dụng 2 cách nghe nhạc đó là: áp tai nghe vào bụng để bé nghe dễ hơn hoặc là bật loa thật to với mong muốn, bé ở trong kia sẽ tiếp xúc được với âm thanh. Vậy bà Bầu nào biết cách nghe?
Tiến sĩ Minh Châu khuyên các bà mẹ tùy theo hoàn cảnh bạn có thể cho bé nghe bằng cả hai cách. Ở cơ quan, không được bật nhạc to chẳng hạn, bạn có thể dùng tai nghe chuyên dụng chỉ dành cho bà bầu có bán ở các cửa hàng áp vào bụng để cho bé nghe. Đôi khi, ở nhà, bạn có thể bật nhạc, nhún nhẩy theo giai điệu hoặc thì thầm lời hát với bé,… Bé cảm nhận được sự yêu thương và cuộc sống trên thế gian thật tuyệt vời...
Để thụ tinh chỉ cần một tinh trùng lọt vào bên trong trứng, có đến 500 triệu tinh trùng tham gia vào cuộc đua tìm vận may này. Tuy nhiên, trong đời sống có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng.
Sai và đúng
- Mang quần soóc (ngắn) chật giảm số lượng tinh trùng? Không đúng. Các nhà khoa học nhận thấy những trang bị lót dùng cho vận động viên điền kinh nam nhằm mục đích nâng đỡ hay quần dài chật không ảnh hưởng xấu đến sinh sản, dù có mặc cả ngày.
- Đi xe đạp nhiều có ảnh hưởng đến sinh sản? Đúng. Ngồi lâu trên yên xe cứng và hẹp hơn 30 phút mỗi lần, nhất là khi lại mặc đồ bó sát có thể làm tăng nhiệt độ ở bìu và ảnh hưởng đến sản xuất tinh trùng. Ngoài ra, cơ thể mập và sự cọ xát với yên xe có thể làm cho cơ quan sinh dục mất cảm giác và gây tổn thương tinh tế cho thần kinh và mạch máu. Để giảm những nguy cơ đó nên để yên hơi chúc, rộng hơn, có lót êm và thỉnh thoảng nên nghỉ trong khi đi xe đạp.
- Thời tiết và đồng hồ sinh học cũng ảnh hưởng đến sinh sản nam? Đúng. Vì thời tiết mát làm cho sản xuất tinh trùng tăng; số lượng tinh trùng cao hơn về mùa đông, thấp hơn về mùa hè; về sáng cũng cao hơn các thời điểm khác trong ngày.
Những yếu tố có hại cho tinh trùng
Ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất thì cũng chỉ có 50 - 70% số lượng tinh trùng sống đủ để thụ tinh cho trứng. Như thế có nghĩa là tinh trùng rất dễ bị tổn thương bởi môi trường, ví dụ như phơi nhiễm với nhiệt độ cao hay hoá chất độc.
Tránh các chất độc có trong môi trường: Ở nơi làm việc và cả ở gia đình đều có thể có những hoá chất làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng. Ethylbenzen, benzene, toluene, xylene có ở nhựa đường, dầu thô, nhựa lợp nhà; kim loại nặng như chì, cadmium, thủy ngân có trong pin, chất màu, đồ nhựa; các dung môi có mùi thơm có trong sơn, vecni, thép, keo dán và chất làm tan mỡ ở kim loại. Một số chất diệt cỏ và côn trùng có tác dụng giống như estrogen nên phá huỷ tiến trình sản xuất tinh trùng. Vì vậy mặc đồ bảo vệ, thông gió, mang mặt nạ chống độc có thể làm giảm nguy cơ hấp thụ các chất độc thấm qua da, qua niêm mạc và vào phổi.
Nam giới không nên đặt laptop lên đùi.
Bỏ hút thuốc và hạn chế rượu:
Thuốc lá ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng không còn là điều nghi ngờ, nhiều nghiên cứu còn cho thấy thuốc lá có ảnh hưởng xấu đến cả thể tích, độ toan, tỷ trọng ở dịch phóng tinh cũng như số lượng tinh trùng sống và khả năng di chuyển của tinh trùng. Thuốc lá làm giảm vitamin C, thiếu vitamin C làm cho tinh trùng vón lại mà không bơi về phía trứng. Uống nhiều rượu có thể làm giảm nồng độ testosterone và cũng làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng.
Rượu ức chế sự hấp thụ một số chất dinh dưỡng thiết yếu như kẽm. Kẽm có nồng độ cao trong tinh trùng và là yếu tố quan trọng trong hiếm muộn nam. Người vừa hút thuốc vừa nghiện rượu đặc biệt có hại cho tinh trùng (giảm rõ rệt số lượng và sự di chuyển của tinh trùng so với người chỉ nghiện một loại).
Không nên tắm hơi: Nhiệt độ thích hợp để tinh hoàn sản xuất tinh trùng từ 35,5oC đến 36oC, nghĩa là thấp hơn nhiệt độ cơ bản. Để tạo ra môi trường nhiệt độ thích hợp, cơ thể tự điều chỉnh bằng cách vào lúc nhiệt độ bên ngoài cao thì da bìu giãn nở ra để bìu thõng xuống, tỏa nhiệt được nhiều hơn; ngược lại lúc lạnh da bìu săn lại do các cơ co rút kéo tinh hoàn lên cao sát với ổ bụng để sưởi ấm cho nó. Do đó, thói quen tắm nước quá nóng, nhất là ngâm mình lâu trong bồn tắm nước nóng là điều làm giảm khả năng sản xuất tinh trùng. Ngoài ra, cũng không nên mặc quần lót chật hay chế tạo bằng ni lông. Để tinh trùng có số lượng và chất lượng tối đa, không nên tắm hơi, bồn tắm nóng sục... ngâm mình trong nước nóng từ 40oC trở lên, có thể làm giảm số lượng và sức sống của tinh trùng. Nên tắm dưới vòi hoa sen.
Không nên ngồi lâu trong văn phòng hay trên xe: Vì có thể làm tăng nhiệt độ ở bìu và ảnh hưởng đến sự sản xuất tinh trùng. Nếu làm công việc tĩnh tại thì thỉnh thoảng nghỉ để giải trí và vận động.
Stress: Có người nghĩ rằng stress chẳng liên quan gì đến tinh binh nhưng thật ra stress không chỉ khiến cơ thể mệt mỏi, thần kinh suy nhược mà còn tác động đến sự sản sinh tinh trùng ở nam giới, quá nhiều yếu tố gây căng thẳng và kéo dài đã ảnh hưởng đến một số hormon cần có để tạo ra tinh trùng. Các chuyên gia khuyên rằng, trong thời gian bị stress, các cặp vợ chồng không nên lên kế hoạch có con. Thay vào đó, cần tìm cách giải toả stress càng sớm, càng tốt. Gặp khó khăn về sinh con lâu dài cũng là một tác nhân gây stress và trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến hormon hay chức năng tình dục. Nam giới kiểm soát stress kém có thể là nguyên nhân giảm khả năng sinh sản. Vậy nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý có vai trò quan trọng, giúp hồi phục sinh lực và tăng cường sức khoẻ.
Sử dụng laptop: Nam giới thường có thói quen đặt laptop lên đùi để sử dụng. Điều này rất có hại cho sức khỏe. Ngoài việc bị ảnh hưởng do sóng điện phát ra từ máy, người sử dụng còn bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ của máy. Theo một nghiên cứu khoa học, nam giới khi để máy tính lên đùi và sử dụng trong một thời gian lâu, sức nóng tỏa ra từ máy sẽ ảnh hưởng tới phần cơ thể tiếp xúc với máy, làm giảm khả năng sống của tinh trùng.
Tóm lại, lối sống lành mạnh có tác dụng tốt để giữ gìn khả năng sinh sản, giúp tránh những tác động có hại để tăng cơ may có thai. Cặp vợ chồng hiếm muộn luôn cần nhớ rằng có đến 40% trong số nguyên nhân hiếm muộn là do nam, 40% do nữ và 20% do cả hai.
BS. Đào Xuân Dũng - skđs
| |
Theo kết quả điều tra tại Pháp, trung bình chỉ có 1/6 số cặp vợ chồng thành công trong việc thụ thai sau 1 năm cố gắng. Không quá 20% phụ nữ may mắn có thai trong một chu kì kinh nguyệt. Sau đây là 10 lời khuyên giúp các cặp vợ chồng duy trì khả năng sinh đẻ và không gặp khó khăn khi muốn có thêm em bé.
1. Kiên nhẫn: Nếu hai vợ chồng sinh hoạt tình dục thường xuyên trong vòng một năm, không áp dụng biện pháp tránh thai nào trong thời gian này mà vẫn không có thai thìv ẫn cần hết sức kiên nhẫn.
2. Quan hệ tình dục đều đặn: Các chuyên gia sản khoa cho rằng, quan hệ tình dục đều đặn cho nhiều khả năng thụ thai hơn. Nên nhớ là tinh trùng có khả năng sống 72g kể từ khi bắt đầu “tạm trú” trong cơ quan sinh dục phụ nữ.
Ảnh minh họa
3. Chấm dứt chế độ ăn uống khắc nghiệt: Những người phụ nữ ăn kiêng có thể giảm cân và cũng giảm cả khả năng sinh con. Hãy bỏ ăn kiêng vài tháng trước khi quyết định có bầu.
4. Ăn uống theo chế độ hợp lý: Bỏ bữa và ăn quá nhiều đường không tốt cho cơ thể của bạn và cả cho khả năng thụ thai. Tỷ lệ đường trong máu cao khiến cơ thể tiết ra quá nhiều hormon có tên là adrenalin. Hormon này tác động xấu đến chất progesteron, một loại hormon có vai trò giúp tử cung đón nhận bào thai. Béo quá hoặc gầy quá cũng làm giảm khả năng thụ thai cho dù bạn đã được điều trị hormon kích thích sinh sản.
5. Giữ chồng luôn mát mẻ: Nói thế không có nghĩa là bắt chồng bạn chui vào trong tủ lạnh mà là khuyên anh ấy mặc quần rộng, tốt nhất là quần bằng vải cotton. Quần quá chật sẽ gây nhiệt độ quá cao ở khu vực bộ phận sinh dục và nhất là hai tinh hoàn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tinh trùng.
6. Chọn mùa cho đúng: Trong một năm có những thời kỳ dễ thụ thai hơn những thời kỳ khác. Đàn ông thường có lượng tinh trùng cao nhất vào đầu mùa xuân và cuối mùa thu. Khả năng di chuyển của chúng cao nhất là vào cuối mùa hè, đầu mùa thu.Vì vậy, đầu mùa đông là thời kỳ thuận lợi nhất cho việc thụ thai. Hãy tận dụng "tiết trời xấu" mà ân ái nhiều hơn dưới tấm chăn ấm.
7. Cẩn thận với thuốc giảm đau: Một số loại thuốc giảm đau ảnh hưởng đến các hormon prostaglandine đóng vai trò làm co tử cung. Vì vậy, không nên dùng thuốc giảm đau trong thời kì rụng trứng.
8. Giảm thuốc lá: Phụ nữ đều biết hút thuốc trong thời gian mang thai là có hại, nhưng ít ai biết thói quen này làm giảm khả năng thụ thai, cản trở quá trình thụ thai đối với cả nam giới lẫn nữ giới. Theo một công trình nghiên cứu mới đây tại Pháp, phụ nữ hút thuốc giảm tới 30% khả năng thụ thai so với phụ nữ không hút thuốc. Tỷ lệ này còn cao hơn nếu đức lang quân của họ cũng hút thuốc.
9. Kiêng rượu: Những người uống nhiều rượu quá có ít khả năng sinh sản hơn những người khác, và ngay cả khi người phụ nữ mang bầu uống rượu, bào thai của họ cũng bị ảnh hưởng.
10. Uống ít cafe: Uống nhiều cafe quá cũng làm giảm khả năng thụ thai. Các công trình nghiên cứu ở nhiều nước châu Âu đã khẳng định, cafein là kẻ thù của khả năng sinh nở.
Theo Báo Người Lao Động
Theo TS.BS Trần Thị Minh Hạnh, phụ nữ mang thai có nhu cầu dinh dưỡng tăng cao, nhất là trong ba tháng giữa và ba tháng cuối nhưng mức độ tăng nhu cầu các chất lại không đồng đều. Trong khi nhu cầu năng lượng lúc mang thai chỉ tăng khoảng 20% so với lúc chưa có thai nhưng nhu cầu các chất khác có thể tăng trên 50%, thậm chí tăng gấp đôi.
Do vậy, phụ nữ mang thai cần chọn lựa thực phẩm có dinh dưỡng cân đối, giàu vitamin và khoáng chất hơn là chỉ giàu năng lượng. Mứt tuy được làm từ trái cây hoặc củ nhưng đã mất hết vitamin và thành phần chủ yếu của mứt chỉ là đường ngọt. Do vậy, cũng giống như bánh kẹo ngọt hoặc nước ngọt, mứt sẽ cung cấp năng lượng rỗng (chỉ có năng lượng nhưng không kèm các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như chất đạm, vitamin, hay khoáng chất…).
Chính vì thế, nếu ăn nhiều mứt các sản phụ sẽ tăng cân nhanh nhưng không có dưỡng chất cần cho thai nhi tăng trưởng. Hơn nữa, ăn mứt nhiều có thể sẽ làm sản phụ ăn mất ngon trong bữa chính (là bữa ăn có đủ dưỡng chất) hoặc bỏ đi một vài bữa phụ nên càng không tốt cho thai.
Tóm lại, phụ nữ mang thai vẫn ăn được mứt nhưng cũng chỉ ăn có mức độ. Nếu chỉ vì buồn miệng thì có thể nhâm nhi các loại hạt hướng dương, hạt dẻ, hạt bí đỏ, các loại đậu sấy hoặc ăn trái cây sẽ tốt hơn nhiều.
(theo Sài Gòn tiếp thị)
Vitamin là những chất hữu cơ có phân tử thấp, cần thiết cho quá trình đồng hóa và sử dụng các chất dinh dưỡng cũng như xây dựng tế bào và tổ chức cơ thể. Vitamin phần lớn không tổng hợp được trong cơ thể mà phải cung cấp từ những thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Nhu cầu về vitamin của cơ thể tuy ít nhưng bắt buộc phải có. Nếu thiếu sẽ xuất hiện một số bệnh lý như bệnh còi xương do thiếu vitamin D, bệnh khô giác mạc do thiếu vitamin A, bệnh Scorbut do thiếu vitamin C...
PHÂN LOẠI VITAMIN
Vitamin được chia thành 2 nhóm là nhóm vitamin tan trong nước như vitamin B, C... và nhóm vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D... Nhóm vitamin tan trong nước khi thừa đều thải ra theo nước tiểu, vì vậy ít xảy ra tình trạng ngộ độc các vitamin nhóm này. Ngược lại, các vitamin tan trong chất béo được dự trữ ở gan với các mức độ khác nhau. Với một lượng vitamin A, D quá cao có thể gây ngộ độc cho cơ thể. Trước nay, nhiều người vẫn lầm tưởng vitamin là loại thuốc bổ, uống bao nhiêu cũng được và dùng càng nhiều càng tốt. Vậy ta hãy tìm hiểu xem việc thiếu và thừa vitamin A và D sẽ gây ra những hậu quả gì?
VITAMIN A (RETINOL)
Có nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể, trước hết là vai trò với quá trình nhìn vì nó là thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc, cần thiết để giữ gìn toàn vẹn lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt và các khoang trong cơ thể.
Nếu thiếu vitamin A sẽ gây khô da ở màng tiếp hợp, khi lan tới giác mạc thì làm khô giác mạc, nặng hơn sẽ làm thủng giác mạc và dẫn tới mù lòa. Thiếu vitamin A còn gây sừng hóa nang lông, bề mặt da thường nổi gai; Làm giảm tốc độ tăng trưởng, giảm sức đề kháng với bệnh tật.
Nếu thừa vitamin A sẽ gây đau bụng, buồn nôn, bơ phờ, chậm chạp, phù gai thị, thóp phồng, vài ngày tiếp theo da bong toàn thân rồi hồi phục dần khi đã ngừng thuốc. Ngộ độc mãn có thể xảy ra sau khi uống 40.000 đơn vị hoặc hơn mỗi ngày, dùng thời gian dài gây đau xương khớp, rụng tóc, môi khô nứt nẻ, chán ăn, gan lách to. Làm xét nghiệm vitamin A huyết thanh tăng.
Ðối với phụ nữ có thai 3 tháng đầu, nếu dùng quá 10.000 đơn vị vitamin A mỗi ngày kéo dài dễ bị dị dạng thai nhi. Còn beta caroten - một tiền chất của vitamin A nếu tăng quá cao trong máu sẽ làm da có màu vàng, nhất là ở gan bàn tay, bàn chân. Ngừng cung cấp beta caroten, vàng da sẽ giảm dần.
Vitamin A chủ yếu có trong thực phẩm nguồn gốc động vật, đặc biệt ở gan các loài cá và một số động vật khác, trong lòng đỏ trứng có 70-90% vitamin A dưới dạng tự do.
Trong thực vật, chủ yếu chứa dạng tiền vitamin A gọi là caroten (Trong đó beta caroten hay gặp nhất và có hoạt tính cao nhất). Beta caroten có trong phần xanh của thực vật cũng như các loại rau quả có màu da cam. Vào cơ thể, caroten được chuyển hóa thành vitamin A chủ yếu ở thành ruột non, nhưng chỉ vào khoảng 70 - 80% (Ở người từ 6mcg beta caroten của thức ăn, cơ thể chỉ được hấp thu 1mcg Retinol).
Nhu cầu hàng ngày về vitamin A ở trẻ em là 400mcg và ở người trưởng thành là 600mcg.
Lượng vitamin A và beta caroten trong một số thực phẩm (mcg trong 100g thực phẩm ăn được).
Thực phẩm Vitamin A Thực phẩm Beta Caroten
Gan gà 6.960mcg Cà rốt 5.040mcg
Gan lợn 6.000mcg Ðu đủ chín 2.100mcg
Trứng vịt lộn 875mcg Rau ngót 6.650mcg
Lươn 1.800mcg Rau dền cơm 5.300mcg
VITAMIN D (Ergocan-xiferol D2, Cholecan-xiferol D3)
Vai trò của vitamin D là điều hòa sự chuyển hóa Calci và Phospho trong cơ thể, làm tăng hấp thu và đồng hóa Calci lên tới 50-80% nhu cầu cần thiết cho quá trình cốt hóa.
Nếu thiếu vitamin D sẽ dẫn đến còi xương. Vitamin D tích lũy trong cơ thể, sau khi được chiếu nắng thì D2 ở da sẽ chuyển thành D3. Nhưng hoạt động này dao động tùy theo mùa trong năm và giờ trong ngày. Một lượng thừa vitamin D tích lũy trước hết ở gan và được phân giải qua thời gian dài, vì vậy để phòng và điều trị còi xương, có thể cho một liều cao vitamin D.
Ðối với trẻ dưới 2 tuổi, nếu thiếu vitamin D thì các rối loạn ban đầu không điển hình như dễ bị kích thích, ra mồ hôi, dần dần rõ hơn là chậm mọc răng, thóp liền chậm, mềm xương sọ, dễ bị co giật. Khi trẻ biết đứng sẽ cong cột sống, đi chân vòng kiềng. Ở các nước xứ lạnh, nguyên nhân chính của thiếu vitamin D là ánh sáng tự nhiên không đủ. Biểu hiện lâm sàng thường rõ ở những trẻ bụ bẫm, lớn nhanh và không rõ ràng ở trẻ suy mòn, chậm lớn. Vitamin D chủ yếu có ở sữa, trứng, gan bò, lợn, đặc biệt là gan cá thu. Vitamin D3 hoạt động mạnh hơn vitamin D2 với tỷ lệ 4:3.
Nếu thừa vitamin D: khi dùng với liều cao D2, D3 hàng nghìn lần liều phòng có thể gây ngộ độc. Các triệu chứng hay gặp là kém ăn, buồn nôn, nóng, tiểu nhiều, ngừng lớn, xanh xao. Ðôi khi gây co giật khó thở. Trong nước tiểu có nhiều Calci, Phospho và các hình trụ ở trẻ em khi điều trị còi xương thấy xuất hiện một số trường hợp kháng vitamin D, cũng như một số trường hợp lại nhạy cảm với nó. Ở những trẻ này chỉ cho từ 1.000 đơn vị đến 3.000 đơn vị/ngày đã xuất hiện triệu chứng ngộ độc.
Lượng vitamin D trong một số thực phẩm
Sữa mẹ 2-4 đơn vị/100g (Mùa hè); 0,3-2 đơn vị/100g (Mùa đông).
Sữa bò 4 đơn vị; Trứng 50-200; Lòng đỏ trứng 300; Gan bò 100; Gan lợn 90, Gan cá thu 500-1.500.
| |
Nếu máu của người mẹ mang yếu tố Rh- trong khi máu của bé mang yếu tố Rh+ thì là không tương hợp. Sự không tương hợp này chỉ xảy ra khi mẹ mang yếu tố Rh- trong khi bé mang yếu tố Rh+. Các trường hợp còn lại: mẹ (Rh+), con (Rh-); mẹ (Rh-), con (Rh-); mẹ (Rh+), con (Rh+) đều không đáng lo ngại.
| Khi có bầu, những người béo không nên tăng cân quá nhiều. Ảnh: AP. |
Khi có bầu, bạn có cần ăn cho hai người? Hướng dẫn mới đây của các chuyên gia Mỹ sẽ cho thấy số cân nặng mà bạn cần tăng - ít một cách đáng ngạc nhiên nếu bạn đã béo sẵn.
Thông điệp quan trọng nhất từ hướng dẫn mới này - do Viện y khoa quốc gia Mỹ công bố - là : Hãy cố gắng đạt cân nặng khỏe mạnh trước khi bạn thụ thai. Bởi nếu bạn ở thời kỳ khỏe mạnh nhất thì cũng tốt nhất cho con bạn.
Các bé được sinh ra khi mẹ thừa cân có nguy cơ đẻ non cao, hoặc về sau chính bé trở nên thừa cân.
Đây là hướng dẫn quốc gia đầu tiên của Mỹ về cân nặng khi mang thai, kể từ năm 1990.
- Với phụ nữ có cân nặng bình thường, đo bằng chỉ số khối cơ thể BMI, nên tăng từ 11 đến 15 kg khi có bầu. BMI (tính bằng cân nặng chia cho bình phương chiều cao, tính bằng mét) bình thường nằm giữa 18,5 và 24,9.
- Với phụ nữ thừa cân (BMI từ 25 đến 29,9) nên tăng từ 6,5 kg đến 11 kg.
- Với phụ nữ béo phì (BMI từ 30 trở lên), chỉ nên tăng từ 5 kg đến 9 kg.
- Phụ nữ nhẹ cân (BMI nhỏ hơn 18,5) nên tăng từ 12,6 đến 18 kg.
Nhìn chung, các bà bầu nhẹ cân và có cân nặng bình thường nên tăng khoảng 0,45 kg mỗi tuần trong quý hai và ba của thai kỳ. Người thừa cân và béo phì cần tăng khoảng 0,25 kg mỗi tuần.
T. An (theo AP)
Nguy hiểm khi nằm nhiều
Nếu bạn dành cả ngày (trừ lúc ăn, tắm và đi khám thai) để nằm trên giường thì điều này thật sự nghiêm trọng, nhất là khi bạn chỉ nằm nghiêng về một phía. Vị trí này sẽ gây áp lực từ thai nhi lên các tĩnh mạch, gây cản trở sự tuần hoàn máu trong cơ thể (từ vùng thấp của cơ thể lên tim).
Trường hợp đặc biệt
Một số trường hợp, thai phụ cần nghỉ ngơi, đặc biệt là mang song thai (hoặc đa thai), có dấu hiệu cảnh báo chuyển dạ sớm hoặc khung xương chậu bị yếu. Bác sĩ cũng sẽ chỉ định việc bạn nên nghỉ ngơi trên giường nếu bạn bị nghi ngờ thai không phát triển đúng trong tử cung, nhau bám thấp (khi nhau nằm ở phía dưới tử cung, gần mép hoặc bao phủ cổ tử cung). Cuối cùng, bạn cũng có thể phải nghỉ nhiều hơn nếu bạn mắc chứng tiểu đường thai kỳ hoặc tiền sản giật dạng nhẹ. Điều này có tác dụng trợ giúp huyết áp ổn định.
Nếu bạn thuộc nhóm thai phụ được bác sĩ chỉ định cần nghỉ ngơi nhiều, bạn nên trao đổi với bác sĩ về giới hạn những hoạt động được phép (tránh tình trạng bạn nghỉ trên giường 24/7). Sau đó, bạn nên trao đổi với chồng hoặc những người thân trong nhà về tần suất nghỉ ngơi hợp lý của bản thân. Ngay cả khi bạn cần một người giúp việc để hỗ trợ, bạn cũng nên thống nhất với chồng.
- Tránh ấn vào bất kỳ vùng đau nào. Dù đau tới đâu cũng từng động vào nó. Sự tác động ngoại lực không đúng chỉ làm cảm giác đau nhanh chóng quay trở lại và kéo dài hơn.
- Ít di chuyển và tránh di chuyển liên tục vì thai phụ có thể không cảm thấy ảnh hưởng gì trong suốt cả ngày cho tới khi lên giường đi ngủ.
- Nghỉ ngơi thường xuyên với tư thế ngồi chuẩn (có chỗ dựa lưng).
| |
Khi mặng quần áo, hãy ngồi xuống, đặc biệt là khi mặc quần. Khi đã lồng được quần vào chân thì hãy đứng dậy để kéo lên. Đừng cố gắng mặc quần dài, váy hay quần lót ở tư thế đứng.
- Khi lên cầu thang, hãy đặt cả 2 chân lên 1 bậc rồi hãy bước tiếp.
- Tránh các tư thế dạng, duỗi chân khi ngồi. Nếu muốn duỗi chân thì hãy làm thật chậm, tránh để ảnh hưởng đến lưng.
- Thường xuyên tập các bài tập xương chậu và vùng bụng dưới sẽ giúp giảm tình trạng căng tức do mang thai. Để các bài tập bụng dưới an toàn và đơn giản, hãy đặt tay lên đầu gối sao cho lưng tạo thành 1 mặt phẳng. Hít vào, giữ 5 - 10 giây rồi mới thở ra. Thả lỏng cơ bắp sau khi tập.
- Tuân thủ các lời khuyên bảo vệ lưng.
Hội chứng SPD sẽ biến mất khi nào?
Một nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 60% phụ nữ bị SPD vẫn tiếp tục chịu đau đớn sau khi đã chuyển dạ.
Hầu hết trẻ đều phát hiện ra rằng những triệu chứng đó sẽ được cải thiện dần dần sau sinh, chỉ có một số ít là vẫn bị đau đớn cho tới tận khi bé được 1 tuổi.
| |
Tại Mỹ, người ta còn tin rằng ăn đu đủ chín sẽ giúp thai phụ thoát khỏi tình trạng táo bón và ợ nóng (heartburn). Một số thai phụ đã ăn đu đủ (thật chín) hoặc đã dùng một số enzymes được bào chế từ đu đủ để ngăn ngừa chứng ợ nóng.
Vì vậy, những nghiên cứu này khuyên thai phụ không nên ăn đu đủ hoặc sử dụng các sản phẩm từ đu đủ. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết rằng chất mủ có rất nhiều trong đu đủ xanh đã tác động theo cách “nhái” với tác động của prostaglandin và oxytocin, là những chất mà cơ thể rất cần để khởi động cho giây phút ra đời của đứa trẻ.
Prostaglandin và oxytocin tổng hợp được sử dụng rộng rãi như một chất “thúc đẻ”. Vì thế, khi chưa đủ ngày đủ tháng để đứa trẻ ra đời, nếu ăn đu đủ xanh thì người ta e rằng sẽ sẩy thai.
Phụ nữ ở Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka đã dùng đu đủ như là một phương cách tránh thai truyền thống. Những nghiên cứu ở thú vật cho thấy đu đủ có khả năng tránh thai và phá thai. Có nhiều khuyến cáo rằng nếu đang có thai hoặc đang chuẩn bị để có thai, tốt nhất không nên ăn đu đủ, nhất là đu đủ xanh.
| |
Mỗi ngày, bạn nên kiên nhẫn tạo cho mình thói quen ngồi toilet vào một giờ cố định (nên chọn thời điểm buổi sáng).
Có thể lúc đó bạn không “buồn” nhưng nên ngồi thư giãn tinh thần và tập trung vào “chuyện bạn muốn thải độc ra ngoài”, trong vòng 30 phút. Bạn không nên cố "rặn" vì điều này gây ảnh hưởng xấu đến thai.
Có một thông tin ngạc nhiên như sau: Nếu hôm nay bạn “đi” được, thì ngày mai, bạn cũng sẽ “đi” được vào khoảng thời gian đó. Nếu hôm nay bạn không “đi” được thì ngày mai bạn cũng rất khó để “giải quyết nỗi buồn”.
Tiêu thụ quá nhiều canxi khi “bầu bí” có thể khiến phân bị rắn, gây nên chứng táo bón. Nếu sử dụng nhiều sữa hoặc các sản phẩm từ sữa hàng ngày, bạn nên cắt giảm tới mức cho phép. Nếu không có chỉ định của bác sĩ, bạn không nên tùy ý bổ sung canxi.
4. Giảm liều lượng sắt
Thừa sắt cũng có thể là nguyên nhân gây táo bón cho thai phụ. Bạn nên ăn những thực phẩm chứa sắt và dùng cách bổ sung sắt theo đúng tiêu chuẩn mà bác sĩ đã quy định. Bạn nên uống giãn cách từng lượng nhỏ sắt một, thay vì uống một số lượng lớn tại cũng một thời điểm.
5. Thực đơn nhiều chất xơ
Trong thời gian mang thai, bạn cần 25-30g chất xơ mỗi ngày, có trong rau xanh, hoa quả, bánh mỳ…
Một số loại thực phẩm giàu chất xơ, có lợi cho đường ruột là:
- Thực phẩm giàu vitamin: các loại rau xanh, giá đỗ, các loại hoa quả như dâu tây, lê, cam, quýt… Nho, chuối, đu đủ chín, bưởi và khoai lang là loại quả được biết đến với tác dụng phòng táo bón hữu hiệu.
- Thức ăn nhiều chất bã: hoa quả tươi, nấm, rong biển…
6. Uống nhiều nước
Uống nhiều nước, đặc biệt là nước lọc là yếu tố quan trọng giúp cơ thể bạn hấp thụ chất xơ. Bạn nên tiêu thụ khoảng 10 cốc nước lọc mỗi ngày. Bạn nên loại bỏ những đồ uống không có lợi như trà đặc, cafe.
Sự kết hợp giữa chất lỏng và chế độ ăn nhiều chất xơ sẽ giúp loại trừ chất cặn bã có trong cơ thể của bạn. Chế độ luyện tập, bị đổ mồ hôi nhiều, thời tiết mùa hè nóng bức là những yếu tố khiến bạn cần nhiều nước hơn cho hệ tiêu hóa.
Những món chè đậu đen, đậu xanh có tác dụng mát lại chứa nhiều nước, cũng thích hợp để chống táo bón trong mùa hè. Nước rau má, rau diếp cá cũng có tác dụng chống nóng trong, phòng táo bón.
Một số quan niệm cho rằng, do nước rau má có vị mát nên uống nhiều có thể gây hỏng thai. Các bác sĩ cho biết, thông tin uống nước rau má (hoặc nước dừa) sẽ sảy thai là thiếu cơ sở khoa học. Tất nhiên, bạn không nên lạm dụng bất kỳ một loại thức ăn nào mà nên sử dụng chúng với tần suất hợp lý.
7. Tập thể dục đều đặn
Thói quen thiếu vận động có khả năng thúc đẩy bạn bị “táo” nhiều hơn. Bạn cũng nên tránh đứng hoặc ngồi quá lâu hoặc nhấc (mang, vác) những đồ vật nặng. Những bài tập tăng cường cơ hông có tác dụng giảm dấu hiệu bị táo bón khi mang thai. Ngoài ra, bạn cũng nên đi bộ hoặc bơi lội để kích thích sự hoạt động của đường ruột. Nếu không thể tập luyện hàng ngày, bạn nên duy trì chế độ tập khoảng 2-3 lần/tuần, mỗi lần 20-30 phút.
Nếu là lần đầu tiên mang thai, người mẹ sẽ rất khó nhận thấy sự "đụng chạm" của bé vào bụng mẹ ngay lập tức bởi vì bé chưa có được độ"nhạy"nhờ kinh nghiệm.
Bé làm gì trong đó thế?
Sau khi cảm nhận được những cử động đầu tiên của bé, mà một số thai phụ ví như là cánh bướm trong gió, bé sẽ ngày càng có những hành động rõ ràng và thường xuyên hơn. Khi bé lớn thêm, những cảm giác này sẽ thay đổi vì không còn là những cử động nhẹ nhàng mà là những “chiêu luyện võ” hay “học múa” ngày càng tăng về cấp độ cùng với sự tăng lên của số tuần mang thai.
Bé sẽ không thúc hay di chuyển liên tục bởi vì cùng với mẹ, thai nhi cũng cần ngủ nghỉ, mặc dù chẳng bao giờ quá 40 phút/lần. Đôi khi “sự im ắng” của bé có cảm giác như kéo dài hơn thì đó là vì không phải lúc nào người mẹ cũng cảm nhận được. Dưới đây là một số hướng dẫn giúp bạn hiểu thêm về sự phát triển của bé.
Từ 20 - 24 tuần: Khi đến thời điểm này, các vận động của bé sẽ tăng dần. Từ nay tới khoảng 10 tuần nữa sẽ là giai đoạn vô cùng bận rộn của bé, với rất nhiều cú huých và nhào lộn.
Từ 24 - 28 tuần: Bé bắt đầu nấc và người mẹ đôi khi có thể cảm nhận được thông qua cảm giác giật giật. Màng ối chứa khoảng 750ml dịch mà cho phép bé di chuyển dễ dàng. Mặc dù khả năng nghe của bé đang pháp triển nhưng lưu ý là bé có thể giật mình vì tiếng ồn bất ngờ từ bên ngoài trong giai đoạn này.
Tuần 29: Bé sẽ bắt đầu có những cử động rõ ràng hơn với tần suất gần hơn vì lúc này, bé đã khá lớn, nặng xấp xỉ 1kg trong bụng mẹ.
Tuần 32: Vận động của bé lúc này sẽ ở đỉnh cao và từ giờ trở đi, người mẹ sẽ nhận thấy sự gia tăng thường xuyên và các kiểu vận động cũng trở nên mạnh hơn và đa dạng hơn.
Từ tuần 36: Bé đang bị “cuốn hút” vào hành trình cuối cùng, thường là đầu bé đã chúc xuống, ở vị trí sẵn sàng để chui ra, đặc biệt nếu đây là lần đầu mang thai vì các múi cơ ở tử cung và bụng còn chắc chắn sẽ giữ bé ở vị trí cố định. Sự vận động chủ yếu lúc này mà người mẹ cảm nhận được giống như những cú thúc cùi trỏ hay đầu gối, và có thể gây đau cho mạng sườn của mẹ.
Nếu không phải là lần mang thai đầu, các cơ bụng có thể yếu hơn, vì vậy bé có thể ở thay đổi vị trí tuỳ thích thậm chí chỉ ở vị trí sẵn sàng vào những ngày cuối cùng, khi chuẩn bị chào đời.
Từ 36 - 40 tuần: Bé đã lớn lắm rồi và những vận động không còn dễ nữa nên sẽ không thường xuyên như trước. Nếu bé mút ngón tay cái và rồi làm tuột ra thì người mẹ có thể thấy đầu bé ngó ngoáy vì bé đang tìm cách để ngậm lại ngón tay.
Trong 2 tuần cuối trước khi sinh, sự vận động sẽ chậm lại và thai càng nặng cân thì càng làm hạn chế các cử động. Điều này là hoàn toàn bình thường và thai phụ không nên lo lắng.
Vận động và vị trí trong giai đoạn cuối cùng của thai kỳ: Trong vài tuần cuối, bé sẽ rúc vào hố xương chậu của mẹ, sẵn sàng chào đời. Nếu bé không làm vậy thì các bác sĩ sẽ có một số cách để đưa bé về vị trí tối ưu. Đầu của bé có cảm giác như một quả dưa “ấn” vào đáy xương chậu khiến bạn ngồi xuống khó khăn và phải cẩn thận hơn.
Cần lưu ý là khi đầu bé lọt vào khung xương chậu, thai phụ sẽ có cảm giác “nhẹ bẫng” hay thấy áp lực giảm bớt ở dưới lồng ngực.
Lúc này, những cú huých của bé thường về một phía nào đó, tương ứng với tư thế nằm của bé. Nếu thành bụng mỏng, thai phụ có thể sờ được cả chân bé.
Thai thường vận động nhiều vào buổi tối, khi người mẹ lên giường và đang muốn ngủ!
Bao nhiêu “cú huých ” mỗi ngày?
Khi bạn đang bận rộn thì sẽ ít cảm nhận được sự “nghịch ngợm” của bé nhưng khi nằm xuống ngủ nghỉ thì lập tức nhận thấy ngay sự có mặt của bé. Đó cũng là lý do vì sao nhiều bà mẹ cho rằng bé có chu kỳ sinh học ngược với mẹ: “mẹ thức, bé ngủ - bé ngủ, mẹ thức”.
Các nghiên cứu cho thấy, mọi đứa trẻ, dù trai hay gái đều là những “mẫu” điển hình về thức và ngủ khi trong bụng mẹ, không phải là về số lần ngó ngoáy trong bụng mà là cách bé vận động.
Cả ngày bé “nằm im”, có nên lo lắng?
Nếu đang thật tập trung vào một việc nào đó, thai phụ sẽ khó nhận thấy sự vận động của bé. Để an tâm, thai phụ có thể khuyến khích bé “nghịch” hơn bằng cách:
- Nằm nghiêng về một bên rồi lại ngồi dậy ngay.
- Nhấc cao chân và thư giãn
- Đặt tai nghe vào bụng và bật nhạc.