Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé từ 4 tuổi - 5 tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé từ 4 tuổi - 5 tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Bé 4 tuổi xẹp phổi do nuốt nắp lọ sơn móng tay

Các bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP HCM) cho biết, bé nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, sốt, khó thở. Chiếc nắp nhựa sau đó được nhìn thấy qua phim CT ở vị trí chắn giữa nhánh phế quản, khiến phổi bên phải bị xẹp gần hết.

Bác sĩ đã gắp ra dị vật bằng nhựa to bằng ngón tay út. Nhìn thấy dị vật này, bà ngoại bé xác nhận đây chính là chiếc nắp lọ nước sơn móng tay bị biến mất hơn một tháng trước.

Người nhà bệnh nhi nói không hề biết bé đã ngậm rồi hóc dị vật như thế nào. Ngay cả khi thấy bé ho kéo dài, khó thở, gia đình đã đưa bé đi chụp CT scan ngực ở quê (Bạc Liêu) nhưng không tìm được nguyên nhân.

Sau hơn 10 ngày điều trị, hôm nay sức khỏe của bé đã hoàn toàn hồi phục.

Theo các bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng 1, hiện tượng hóc dị vật ở trẻ ngày càng gia tăng, trong đó nhiều trường hợp hóc lâu ngày mà không được phát hiện dẫn đến biến chứng. Chính vì thế, bác sĩ khuyên phụ huynh không nên cho trẻ chơi hoặc tiếp xúc với các vật nhỏ có thể cho được vào miệng.

VNE

Khi trẻ tò mò về chỗ kín

Ảnh minh họa: Lafayettecountyhealth.org.

3 đến 6 tuổi, trẻ thường thích chơi trò "bác sĩ" (cho nhau xem các bộ phận kín). Lúc này, bạn không nên mắng con gay gắt mà hướng sự chú ý của trẻ vào hoạt động khác. Sau đó, giải thích với con rằng mọi người thường không làm như thế.

Trả lời những câu hỏi của con về giới tính là một trong những trách nhiệm mà những người làm cha mẹ cảm thấy khó nhất. Làm thế nào để cung cấp cho con thông tin cần thiết mà không "vẽ đường cho hươu chạy"? Kidshealth đưa ra cho bạn một số gợi ý:

- Bạn có nên đặt bí danh cho những bộ phận kín?

Khi trẻ lên 3 tuổi, cha mẹ có thể dùng những tên gọi chính xác của những bộ phận này. Không có lý do gì bạn phải dùng những từ lóng thay thế. Những từ như: dương vật hay âm đạo... nên được gọi theo tên chính xác của nó chứ không phải một cách ám chỉ nào đó. Bằng cách này, trẻ sẽ học cách có cử chỉ phù hợp mà không thấy bối rối.

- Bạn nên nói gì khi con hỏi em bé sinh ra từ đâu?

Điều đó phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ. Bạn có thể nói rằng em bé lớn lên từ một quả trứng trong tử cung mẹ, vừa chỉ vào bụng của bạn và chui ra từ một nơi đặc biệt gọi là âm đạo. Bạn không cần phải giải thích hành động yêu bởi vì rất ít trẻ có thể hiểu được khái niệm này.

Tuy nhiên, bạn có thể nói rằng khi một người đàn ông và một người phụ nữ yêu nhau, họ thích ở gần nhau. Bạn có thể nói với con tinh trùng của bố kết hợp với trứng của mẹ và sau đó, em bé bắt đầu phát triển.

Hầu hết trẻ dưới 6 tuổi sẽ chấp nhận câu trẻ lời này. Bạn hãy trả lời câu hỏi này mà không hề lảng tránh và bạn sẽ thấy con thỏa mãn dù là có ít thông tin.

- Bạn sẽ làm gì nếu bắt gặp con đang chơi trò "bác sĩ" (chỉ cho nhau xem những bộ phận kín)?

Trẻ từ 3 đến 6 tuổi thường thích chơi trò này nhất. Nhiều cha mẹ có phản ứng thái quá khi chứng kiến hoặc nghe nói về cách cư xử này. Tuy nhiên, mắng trẻ một cách gay gắt không phải là cách giải quyết vấn đề. Cha mẹ cũng không nên nghĩ điều này sẽ dẫn đến những hành vi bừa bãi khác. Thường thì sự có mặt của cha mẹ đã đủ để làm gián đoạn trò chơi này.

Bạn có thể hướng sự chú ý của trẻ vào các hoạt động khác mà không cần làm ầm lên. Sau đó, bạn hãy ngồi lại và nói chuyện với con. Hãy giải thích rằng mọi người thường không thích khoe cơ thể mình ở nơi đông người. Bằng cách này, bạn sẽ đặt ra những giới hạn mà không khiến con cảm thấy có tội.

Đây cũng là độ tuổi thích hợp để bạn bắt đầu nói với con về những đụng chạm nào là tốt và không tốt. Hãy nói với con rằng cơ thể là của chính con và rằng chúng cũng có những bộ phận kín. Không ai có thể chạm vào những chỗ này nếu chúng không thích hoặc không muốn. Bạn cũng hãy nhắc nhở con là nếu có bất cứ ai từng chạm vào trẻ theo cách này khiến bé thấy sợ thì trẻ nên nói người đó ngừng lại và sau đó kể lại cho bạn nghe.

- Khi nào bạn nên nói với con về cơ quan sinh dục nam và nữ?

Thực sự thì việc học về tình dục không nên chỉ gói ghém trong một bài học. Đây là một quá trình hé lộ từ từ. Bạn nên trả lời khi trẻ đưa ra những câu hỏi để thỏa mãn trí tò mò tự nhiên của trẻ.

Tuy nhiên, nếu con không hỏi, bạn cũng không nên bỏ qua chủ đề này. Khi lên 5, bạn có thể giới thiệu với con những quyển sách phù hợp với sự phát triển của con.

- Khi nào bạn nên nói với con về chu kỳ kinh?

Bạn nên nói cho con về việc có kinh trước khi con lên 8, một vài điều cần thiết với trẻ ở trường. Các sách dạy thì cần thiết nhưng các bà mẹ cũng nên chia sẻ với con kinh nghiệm của chính bản thân mình với con gái. Chẳng hạn, họ bắt đầu "đến tháng" khi nào và cảm giác lần đầu như thế nào...

VNE

Bé sơ sinh - 5 tuổi: Vitamin A - Vitamin D3 - Vitamin E liều bao nhiêu



Vitamin rất cần thiết, nó có tác dụng duy trì các quá trình chuyển hóa bảo đảm sự sinh trưởng và hoạt động bình thường của cơ thể. Tuy nhiên, cũng như các loại thuốc khác, vitamin là con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng bừa bãi, nó có thể gây ra những tác hại đối với cơ thể chúng ta.

Đặc điểm của vitamin tan trong dầu và nhu cầu của cơ thể

Vitamin tan trong dầu hấp thu cùng với các chất mỡ, vì vậy khi cơ thể không hấp thu được mỡ thì không hấp thu được những vitamin này. Quá trình hấp thu đòi hỏi phải có acid mật làm chất nhũ hóa vì mỡ không tan được trong máu, để thuốc hấp thu tốt thì nên uống trong hoặc sau bữa ăn. Khi dùng quá liều, các vitamin này không thải trừ hết qua thận mà tích lũy chủ yếu ở gan và mô mỡ, do đó khi dùng liều cao và kéo dài sẽ gây độc tính, đặc biệt là vitamin A và D. Do tích lũy trong cơ thể nên các triệu chứng thiếu thường xuất hiện chậm, vì vậy không cần bổ sung hàng ngày dưới dạng thuốc. Các vitamin này tương đối bền vững với nhiệt, không bị phá hủy trong quá trình nấu nướng.

Nhu cầu hàng ngày về vitamin tan trong dầu đối với người bình thường phụ thuộc vào lứa tuổi, cụ thể: với trẻ dưới 1 tuổi, nhu cầu vitamin A là 1.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 5IU/ngày; với trẻ từ 1 - 4 tuổi, nhu cầu vitamin A là 2.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 10IU/ngày; với trẻ trên 4 tuổi và người lớn, nhu cầu vitamin A là 5.000IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày và vitamin E là 30IU/ngày.

Bổ sung vitamin tan trong dầu như thế nào?

Các vitamin luôn có sẵn trong ngũ cốc và thực phẩm, vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hóa (tiêu chảy, tắc mật, viêm tụy, loét dạ dày - tá tràng...) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không nhất thiết phải bổ sung dưới dạng thuốc.

Khi thiếu vitamin nhẹ có thể điều trị bằng cách ăn các thực phẩm có chứa nhiều vitamin. Vitamin A có nhiều trong gan cá thu, trứng, thịt, cá, sữa, gấc, cà chua, cà rốt và rau xanh. Vitamin D chủ yếu có trong thức ăn từ động vật: sữa, bơ, gan, trứng, thịt. Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật: dầu cám, dầu lạc và trong các hạt nảy mầm, rau xanh; có một lượng nhỏ trong lòng đỏ trứng gà, gan...

Việc bổ sung vitamin dưới dạng thuốc chỉ khi thiếu trầm trọng hoặc trong trường hợp chưa có điều kiện thay đổi chế độ ăn. Thường thì ít có hiện tượng thiếu đơn độc một chất, vì vậy việc bổ sung vitamin dưới dạng hỗn hợp có hiệu quả hơn khi dùng các chất đơn lẻ. Tỷ lệ phối hợp các công thức tùy trường hợp thì khác nhau nên khi lựa chọn phải căn cứ vào nguyên nhân gây thiếu để bổ sung cho phù hợp.

Thừa vitamin tan trong dầu - điều gì sẽ xảy ra?

Nhóm vitamin tan trong dầu có thể gây ra tình trạng thừa vitamin nếu lạm dụng thuốc (người bình thường ăn uống đầy đủ vitamin mà vẫn bổ sung vitamin thường xuyên dưới dạng thuốc), ngoài ra gặp trong một số ít trường hợp thừa vitamin cấp tính do ăn loại thức ăn có chứa lượng lớn vitamin tan trong dầu, ví dụ như ăn gan gấu trắng, gan cá thu... Khi lượng vitamin dư thừa quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc thuốc, tùy thuộc vào loại vitamin dư thừa mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau:

Vitamin A

Vitamin A dùng thừa sẽ xuất hiện các triệu chứng: ngứa da vẩy nến, sung huyết ở da và các niêm mạc, tóc khô, xơ xác, dễ gãy, chán ăn, buồn nôn, giảm prothrombin, chảy máu và thiếu máu.

Trẻ em dưới 4 tuổi thường xuyên uống vitamin A có hàm lượng lớn hơn hoặc bằng 5.000 IU/ngày có thể bị ngộ độc mạn tính với triệu chứng đau xương, ban đỏ, viêm da tróc vảy, viêm miệng... Nếu dùng liều vitamin A lớn hơn hoặc bằng 100.000 IU/ngày có thể gây phồng thóp, co giật, tăng áp lực sọ não.

Phụ nữ có thai dùng kéo dài vitamin A > 5.000 IU/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.

Vitamin D

Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích luỹ thuốc, làm tăng calci trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra còn có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp.

Trẻ em dưới 1 tuổi được cho ăn các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều > 400 IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi khỏe mạnh làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong.

Vitamin E

Thừa vitamin E, dùng liều cao trên 3.000 IU/ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, đầy hơi, tiêu chảy, đau đầu, chóng mặt, viêm ruột hoại tử. Tiêm Vitamin E liều cao vào tĩnh mạch dễ gây tử vong.

Vì vậy, để tránh thừa vitamin cần chú ý:

Thận trọng khi sử dụng các chế phẩm hàm lượng lớn hơn 5 lần nhu cầu hàng ngày.

Khi dùng thuốc ở dạng hỗn hợp vitamin thì phải phân biệt các công thức dành cho trẻ em dưới 1 tuổi, cho trẻ dưới 4 tuổi và cho người lớn (tính từ 11 tuổi trở lên).

Đường đưa thuốc ưu tiên trong mọi trường hợp là đường uống. Đường tiêm chỉ dùng trong trường hợp không hấp thu được bằng đường tiêu hóa (nôn nhiều, tiêu chảy...) hoặc khi cần bổ sung gấp vi chất và trong nuôi dưỡng nhân tạo ngoài đường tiêu hóa.

Như vậy, không nên lạm dụng vitamin, đặc biệt là vitamin tan trong dầu. Tốt nhất nên tham khảo ý kiến và tuân thủ chỉ định điều trị của các nhân viên y tế khi bạn dùng vitamin.

Nguồn: Sức khoẻ và đời sống

Những điều cần biết khi cho trẻ ăn bột dặm

Trong giai đoạn tập cho trẻ ăn dặm có rất nhiều bà mẹ lúng túng không biết phải bắt đầu như thế nào. Những lời khuyên sau đây sẽ giúp các bà mẹ thực hành cho trẻ ăn dặm tốt hơn.

Thời điểm cho trẻ ăn dặm bột

Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới và Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam, thời điểm ăn dặm tốt nhất là khi trẻ được 6 tháng tuổi. Ở tháng tuổi này, hệ men tiêu hóa của bé đã hoàn chỉnh, và nguồn sữa mẹ lúc này tuy vẫn còn khá nhiều nhưng không còn đáp ứng đủ cho sự tăng trưởng của trẻ.

Các nguyên tắc cần lưu ý khi cho trẻ ăn dặm bột

Nên rửa tay thật sạch và lau khô bằng khăn sạch trước khi pha bột cho trẻ.

Chỉ nên cho trẻ ăn 1 bữa trong ngày, nếu mẹ phải đi làm hoặc trẻ quá thích ăn bột thì cho trẻ ăn tối đa là 2 bữa, nhưng 2 bữa này phải cách thật xa nhau để bé có thể tiêu hóa một cách dễ dàng.

Lúc này trẻ chỉ tiêu hóa tốt bột loãng 5%; có nghĩa là trong 100ml nước chỉ pha 5g bột (5g bột tương đương với 2 muỗng canh nhỏ bột gạt ngang), sau đó độ đậm đặc của bột sẽ được tăng dần mỗi tuần.

Cho trẻ ăn từ ít đến nhiều, không cố ép trẻ ăn hết phần bột đã pha ra, nếu trẻ ăn được ít, thì cho trẻ bú mẹ liền ngay sau ăn cho trọn bữa.

Thời điểm cho trẻ ăn dặm trong ngày phụ thuộc vào trẻ, không nhất thiết phải là buổi sáng, lúc vui vẻ trẻ sẽ dễ chấp nhận bữa ăn hơn.

Khi cho trẻ ăn, mẹ cũng cần sắp xếp công việc để có một khoảng thời gian dài thoải mái dành cho trẻ. Có như vậy, bữa ăn sẽ diễn ra như một trò chơi, trẻ sẽ thích thú đón nhận.

Chọn bột ăn dặm có vị ngọt để mùi vị bột sẽ gần giống vị sữa mẹ, trẻ sẽ dễ chấp nhận hơn.

Nếu trẻ không chịu ăn dặm, mẹ hãy ngưng cho ăn trong 3-5 ngày, sau đó cho trẻ tập ăn lại.

Một số trẻ không thích ăn bột có vị ngọt, mẹ hãy chọn một loại bột có vị mặn bán sẵn trên thị trường cho trẻ ăn, hoặc nếu có thời gian hãy thử chế biến 1 chén bột (200ml) cho trẻ ăn tại gia đình như sau:

- Bột (sử dụng bột gạo xay khô hoặc bột ngũ cốc có bán sẵn trên thị trường): từ 10g tăng dần đến 20g, tương đương 3-6 muỗng canh nhỏ bột gạt ngang.

- Thịt, cá, tép… (bằm thật nhuyễn): 20g tương đương với 2 muỗng canh nhỏ đong vun vừa.

- Rau, củ, trái bằm nhuyễn hoặc tán nhuyễn sau khi luộc chín: 15-20g tương đương với 1,5-2 muỗng canh nhỏ đong vun vừa.

- Dầu tinh luyện (dầu nành, dầu mè, dầu gấc…): 5g tương đương với 1 muỗng canh nhỏ.

- Nêm nếm: có thể sử dụng muối iod hoặc nước mắm ngon, nhưng bao giờ cũng nêm lạc hơn khẩu vị của người lớn.

Khi tiếp xúc với món ăn mới, trẻ cần thời gian từ 3-5 ngày để làm quen, sau khi trẻ đã làm quen với nhiều món, mẹ bắt đầu thay đổi món mỗi ngày để tạo sự ngon miệng cho trẻ.

Một số sai lầm thường gặp khi cho trẻ ăn dặm

Cho trẻ ăn nhiều bữa bột trong ngày: điều này làm trẻ khó tiêu, trở nên biếng bú mẹ, và chậm tăng cân.

Chỉ dùng nước hầm xương pha với bột gạo cho trẻ ăn: điều này chỉ phù hợp với bé trong vài ngày đầu, sau đó cần cho trẻ ăn luôn xác thịt, cá, rau… thì mới bảo đảm chất dinh dưỡng cho trẻ tăng trưởng.

Pha bột quá đặc: trẻ khó tiêu hóa dẫn đến biếng bú, biếng ăn ( khoảng cách giữa các bữa ăn và bú cứ dài ra dần).

Pha sữa với nước cháo: nếu tất cả các bình sữa đều pha với nước cháo thì giống như cho trẻ ăn bột nhiều lần trong ngày, sẽ làm cho trẻ khó tiêu và mau chóng bỏ bú.

Mua nhiều loại bột và mở nắp hàng loạt để đổi vị cho trẻ: bột ăn dặm cũng giống như sữa bột, thời gian từ lúc mở nắp hộp cho đến khi dùng hết hộp bột (hoặc sữa) không nên quá 15 ngày. Nếu mở cùng một lúc nhiều hộp bột, thời gian sử dụng của một hộp sẽ kéo dài, dễ dẫn đến tình trạng nhiễm vi khuẩn vào bột gây bệnh tiêu chảy cho trẻ.

Cho trẻ ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi: điều này không phù hợp với hệ men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh của trẻ và làm cho nguồn sữa mẹ bị ít đi, do trẻ khó tiêu dẫn đến ít bú mẹ.

Cho trẻ ăn dặm trễ (trên 6 tháng): ở thời điểm này về mặt tâm lý trẻ chỉ thích những gì đã quen thuộc với mình, nên việc tập ăn dặm sẽ trở nên khó khăn.

Tạo ra một khuôn khổ khi cho trẻ ăn dặm như bắt trẻ phải choàng khăn khi ăn, không cho trẻ dùng tay tiếp xúc với món ăn, bắt trẻ phải ăn hết phần ăn… những điều này tạo sự căng thẳng và gây ra phản ứng chống đối ở trẻ khi đến bữa ăn.

Đè đổ khi trẻ không chịu ăn: tạo ra mối bất hòa giữa mẹ và trẻ, dẫn đến chứng chán ăn kéo dài. Ăn dặm đúng cách giúp trẻ mau lớn và tạo sự an tâm cho các bà mẹ phải đi làm lại sau thời gian nghỉ hậu sản.

Theo BS. Nguyễn Thị Ngọc Hương
Sức khỏe và Đời sống

Cách nâng cao khả năng miễn dịch: Đẩy lùi bệnh tật cho trẻ

Nâng cao khả năng miễn dịch là cách giúp bé chống lại bệnh tật. Dưới đây là những cách đơn giản để bạn giúp bé yêu tăng sức đề kháng tốt hơn
1. Cho bé bú sữa mẹ

Trong sữa mẹ có chứa một hàm lượng lớn các chất có khả năng miễn dịch, chính vì thế mà bé uống sữa mẹ có sức đề kháng tốt hơn. Chúng ta có thể nói rằng sữa mẹ chính là nguồn dinh dưỡng tốt nhất có thể giúp bé nâng cao khả năng miễn dịch.

2.Thường xuyên vuốt ve bé

Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng mà từ trước tới nay chúng ta vẫn luôn tôn thờ. Trong thời kỳ mang thai, các thai phụ xuyên vuốt ve, nói chuyện với thai nhi là cách rất tốt để thai nhi cảm nhận được thế giới bên ngoài. Cách làm này có thể có lợi giúp kích thích phát triển hệ thống thần kinh. Sau khi sinh con, các bà mẹ thường xuyên vỗ về bé sẽ làm cho bé có cảm giác an toàn và giúp cho sự sinh trưởng diễn ra nhanh hơn. Vuốt ve có thể cải thiện hệ tuần hoàn máu, nâng cao khả năng miễn dịch, giúp bé hấp thụ tốt hơn và bớt quấy khóc, mất ngủ.

3. Tiêm chủng phòng bệnh cho bé

Vì sức khỏe của bé, các bà mẹ nên đưa bé đi tiêm chủng để phòng chống các loại bệnh không có lợi.
4. Duy trì thói quen sinh hoạt

Về vấn đề này, các ông bố bà mẹ nên hỗ trợ, giúp đỡ bé sớm hình thành thói quen cho bản thân. Ví dụ như bé cần ngủ đủ giấc mỗi ngày thì ban ngày sẽ không quấy khóc. Thường xuyên đưa bé ra ngoài chơi để hít thở không khí và làm quen với môi trường bên ngoài cũng là cách giúp hình thành tính cách của bé, đây là điều hoàn toàn có lợi cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

5. Cân bằng lượng thức ăn cho bé

Khi bạn thay đổi thức ăn cho bé, nếu không chú ý giữ vững cân bằng dinh dường thì sẽ khiến cho sức đề kháng của bé bị yếu đi. Bạn nên cho bé ăn nhiều trứng, thịt, và các loại rau hoa quả tươi. Tránh sử dụng thực phẩm dầu, quá mặn hay quá ngọt cũng không tốt cho sức khỏe của bé.

6. Không nên cho bé ăn quá no

Hệ tiêu hóa của trẻ em thường rất yếu, nếu bạn cho bé ăn quá no sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa, bé sẽ bị đau bụng hoặc cảm thấy đầy bụng, khó tiêu, không có cảm giác ngon miệng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bé sau này, chính vì thế mà bạn không nên cho bé ăn quá no.

7. Uống nhiều nước đun sôi để nguội

Thường xuyên uống nhiều nước có thể giúp rửa sạch ruột, hỗ trợ đường tiêu hóa. Khi bé đến tuổi đi học mẫu giáo, bạn nên cho bé mang theo một bình nước đun sôi để nguội để tiện uống khi khát. Nhưng bạn nên chú ý chỉ nên cho bé uống trong ngày, không nên để qua ngày rồi uống tiếp.

8. Không nên giữ cho môi trường trong nhà quá sạch đến mức không cần thiết

Chúng ta hiểu rằng, môi trường vô trùng quá sạch sẽ, điều đó cũng đồng nghĩa với việc bé sẽ ít có nguy cơ bị mắc các bệnh truyền nhiễm hoặc cảm nhiễm. Điều này sẽ khiến cho hệ miễn dịch của bé suy giảm, và khi sang một môi trường khác, bắt gặp những loại vi khẩn, bé sẽ nhanh chóng bị nhiễm bệnh. Bởi vậy, thường ngày bạn chỉ cần dùng xà phòng và nước để tắm cho bé và giữ môi trường sạch sẽ chứ không nhất thiết phải dùng hóa chất diệt khuẩn.

9. Giữ cho nhà vệ sinh sạch sẽ

Bạn nên rèn cho bé thói quen sạch sẽ và chú ý rửa tay sau khi đi vệ sinh, đặc biệt là trước khi ăn cơm. Bởi như vậy, bé sẽ hình thành thói quen tránh việc đưa vi khuẩn vào người.

10. Không nên tùy ý dùng thuốc kháng sinh

Để hệ thống miễn dịch của cơ thể bé quen với một vài loại vi khuẩn thì bạn sẽ tránh ho bé được việc mắc bệnh. Nếu cứ tùy ý dùng thuốc kháng sinh thì sẽ dẫn tới hiện tượng “nhờn” thuốc và cơ thể của bé sẽ không thể chống lại sự xâm nhập của những loại vi khuẩn trong môi trường xung quanh.

Yeucon.org tổng hợp

Làm thế nào kiểm tra IQ cho con

Con trai tôi tên Gia Kiên, được 4 tuổi. Tôi thấy bé rất thông minh, biết tư duy và tiếp thu nhanh. Tôi muốn kiểm tra IQ cho bé thì đến đâu và nếu làm vậy có ảnh hưởng gì đến bé không? Làm thế nào để biết con tôi có phải là thần đồng hay không? (Huynh Phuong Duy)

Trả lời:

Con bạn tỏ ra rất thông minh, tư duy và tiếp thu rất nhanh... có thể không cần phải kiểm tra chỉ số IQ. Có lẽ điều bạn cần quan tâm hơn là dạy bé như thế nào để khơi nguồn những tiềm năng ấy sớm phát triển thành tài năng.

Tuy nhiên nếu bạn thực sự muốn biết con mình thông minh như thế nào, có phải là thần đồng không, bạn có thể đưa bé đến gặp một chuyên gia về tâm lý trẻ em có kinh nghiệm sử dụng các trắc nghiệm đo IQ để kiểm tra chỉ số IQ của bé. Việc kiểm tra chỉ số IQ hoàn toàn không có bất kỳ ảnh hưởng xấu nào tới bé, có chăng kết quả đánh giá có thể không giống như những gì bạn kỳ vọng.

Nếu có thể, bạn đưa bé tới Trường Mầm non Hoàng Gia, 343 Đội Cấn Hà Nội, các chuyên gia tâm lý trẻ em của Trung tâm tư vấn phát triển tài năng sớm, thuộc Công ty Con đường mới Equest sẽ kiểm tra chỉ số IQ cho bé. Bạn có thể tìm các thông tin về phương pháp đánh giá các chỉ số IQ, CQ, EQ...

Nếu vì điều kiện ở xa, bạn có thể tìm đến một trung tâm tư vấn tâm lý trẻ em của thành phố gần nhất, nhờ kiểm tra. Khi kiểm tra chỉ số IQ, xin bạn hãy lưu ý đến xuất xứ của trắc nghiệm, mục tiêu đánh giá của trắc nghiệm và quan trọng hơn là độ tin cậy, độ hiệu lực của trắc nghiệm. Hơn hết, tay nghề, khả năng đọc hiểu kết quả, khả năng tư vấn của người đánh giá mới là điều quan trọng.

Còn bạn muốn biết bé (tuổi mầm non) có phải là thần đồng hay không cần phải qua đánh giá và quan sát những biểu hiện hành vi của bé. Thông thường những bé được xem là thần đồng thường có chỉ số IQ (đo bằng những trắc nghiệm đo IQ khác nhau, có độ tin cậy đảm bảo) luôn lớn hơn 130. Những bé này thường có biểu hiện biết nói sớm, vượt trội so với trẻ cùng tuổi ở khả năng ngôn ngữ, tư duy, trí nhớ... chẳng hạn như: có vốn từ vựng lớn, có trí nhớ tốt, nói lưu loát vốn từ phong phú, biết nhiều thông tin, suy nghĩ nhanh, thường dễ dàng đưa ra những câu hỏi và câu trả lời sáng tạo trong những tình huống không quen thuộc... dễ dàng phát hiện ra những mối quan hệ có tính quy luật, logic, nhân quả... mà trẻ cùng tuổi khác không thể. Tuy nhiên những dấu hiệu thần đồng có thế mất dần, nếu cha mẹ không biết phương pháp nuôi dưỡng, giáo dục bé phù hợp.

(Tiến sĩ Nguyễn Công Khanh, chuyên gia tư vấn tâm lý trẻ em

Phải làm gì khi bé 3 tuổi vẫn chưa biết nói?

Cháu tôi 38 tháng, đi nhà trẻ từ lúc 2 tuổi nhưng vẫn chưa biết nói, ngay cả những từ đơn giản như: ba, đi, ăn… Khi người lớn nói chuyện, cháu có thể hiểu và làm theo các yêu cầu như lấy ghế hoặc đi dép, nhưng vẫn không phát âm được. Có cách nào điều trị cho cháu? (Huynh Ngoc Dung)

Cháu rất hiếu động, thích xem những mẩu quảng cáo trên TV. Khi cháu còn nhỏ, anh chị tôi vì công việc nên thường xuyên về nhà muộn, vì thế không có nhiều thời gian để trò chuyện với cháu. Hằng ngày cháu ở nhà với người giúp việc, nhưng do họ còn nhiều việc nhà khác phải làm nên thường xuyên mở video các đoạn quảng cáo trên TV cho cháu xem để cháu ngồi yên không đi nghịch phá.

Từ khi cháu 2 tuổi, anh chị tôi đã cho cháu đi khám nhiều lần ở các cơ sở y tế, nhưng các bác sĩ bảo là bình thường và chỉ cần về nhà bố mẹ dành thêm thời gian trò chuyện với con, khi bé muốn lấy gì thì thay vì đưa tay chỉ phải nói tên của đồ vật và yêu cầu bé lặp lại. Gia đình cũng thực hiện những hướng dẫn của bác sĩ nhưng đến nay đã hơn 1 năm mà cháu vẫn chưa nói chuyện được.

Trả lời

Xin chào anh/chị!

Cháu nhà mình như vậy là chậm nói và điều này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của cháu. Nguyên nhân khá rõ ràng: Vào giai đoạn thuận lợi nhất cho sự phát triển ngôn ngữ (từ 8 - 9 tháng đến 5 tuổi) thì cháu đã không có môi trường ngôn ngữ chuẩn mực để phát triển ngôn ngữ. Không có ai giao tiếp với cháu theo đúng nghĩa của nó, cháu tiếp xúc với TV và băng hình nhiều hơn... Rất nhiều cháu trong hoàn cảnh này đã mắc bệnh tự kỷ.

Gia đình hãy kiểm tra xem cháu có giao tiếp thường xuyên bằng mắt với mọi người không, cháu có làm theo mọi mệnh lệnh của người lớn không (không phải kiểm tra sự phục tùng của cháu mà kiểm tra sự thông hiểu ngôn gnữ của cháu). Gia đình hãy quan sát và nên ghi chép đầy đủ về biểu hiện hành vi của cháu, vì đôi khi cháu chỉ phản ứng đúng với một hai trường hợp thôi, còn đại đa số phản ứng tự phát. Nếu như vậy thì câu chuyện phải theo hướng khác - điều trị tại cơ sở chuyên biệt.

Tuy nhiên, có một số trường hợp là do nguyên nhân môi trường nên trẻ bị mất ngôn ngữ cục bộ. Trong trường hợp này, đúng như bác sỹ đã có lời khuyên, gia đình cần tập trung thời gian cho con và giao tiếp tích cực với con.

Giao tiếp tích cực có nghĩa là thế nào? Người lớn cần phải hoá thân thành đứa trẻ, chơi với trẻ, giúp trẻ hoạt hoá toàn bộ hệ thống thần kinh. Hãy nô đùa thật vui, vừa chạy vừa hét, vừa ra lệnh, vừa thể hiện cảm xúc... sao cho đứa trẻ như bị dồn nén về cảm xúc và khó chịu vì sự bất lực ngôn ngữ để rồi phải bùng phát một từ nào như để giải toả...

Dạy qua hoạt động thực sự bao giờ cũng hiệu quả. Còn nếu dạy trẻ bằng cách ngồi bắt trẻ nhắc lại những gì người lớn nói thì thật nhàm chán. Đứa trẻ bình thường cũng khó chấp nhận huống chi trẻ chậm nói và thiếu tập trung. Khó khăn nhất là những từ đầu tiên trẻ có thể bật ra... Khi trẻ bật được rồi thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Một điều đáng lưu ý là giáo dục trẻ cần thực hiện trong hoạt động đầy cảm xúc mới mang lại sự thay đổi.

Gia đình hãy thử nghiệm bước đột phá đầu tiên này. Hãy tin cho chúng tôi về kết quả.

(Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa, chuyên gia Tâm lý Công ty con Đường mới Equest)