Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé 12 tháng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé 12 tháng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng

Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng cho trẻ. Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng là trẻ bị thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng làm trẻ không tăng cân, chiều cao và giảm trí thông minh. Do đó, chế độ ăn của trẻ suy dinh dưỡng có nguyên tắc chung là làm tăng năng lượng và tăng chất dinh dưỡng.

Tăng dầu mỡ: Vì dầu mỡ cung cấp năng lượng gấp đôi chất bột và chất đạm. Mỗi bát bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần có một muỗng canh dầu hoặc mỡ.

Nấu đặc: Vì nếu nấu loãng, nhiều nước thì năng lượng sẽ thấp. Nhưng trẻ sẽ khó ăn do đó ta dùng men amylase (có trong bột mộng bắp) hoặc neopeptin theo chỉ định của bác sĩ nhỏ vào chén bột đặc sẽ làm bột lỏng ra và trẻ sẽ dễ ăn hơn.

Tăng bữa ăn: Ngày ăn 5-6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Cho trẻ ăn thêm bữa tối trước khi ngủ. Nên ăn thêm bữa phụ ví dụ như sau khi ăn bữa chính nếu trẻ ít hơn nửa chén thì cho trẻ uống nửa ly sữa, nửa cốc sữa chua, nửa quả chuối..., vì làm như vậy trẻ đỡ chán ăn.

Tại sao lại một nửa mà không phải là một? Vì chỉ cần cho trẻ ăn thêm vừa sức của trẻ, không nên ép ăn hết khi trẻ đã chán. Vì làm thế, trẻ sẽ nôn thức ăn ra và sẽ rất "sợ ăn" dẫn tới biếng ăn sau này. Đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng nên cho ăn thêm một bữa tối trước khi đi ngủ.

Tăng cường chất dinh dưỡng: Thức ăn nên đủ chất dinh dưỡng nhưng trẻ phải ăn cả xác thực phẩm. Do đó, khi chế biến phải chú ý băm nhỏ, nấu mềm và nêm phù hợp với khẩu vị của trẻ. Trẻ thường ăn nhạt và không thích có nhiều mùi gia vị. Những thực phẩm thích hợp với trẻ nhỏ là trứng, thịt băm, cá băm, rau cũng nên xắt nhỏ.

Lưu ý, không nên cho trẻ uống nước trái cây trước khi ăn hoặc coi nước trái cây là một bữa phụ vì nước trái cây rất ít năng lượng, ít chất xơ, chỉ có vitamin tan trong trong nước và có đường nên sẽ làm trẻ "ngang dạ" không muốn ăn bữa chính.

Ngoài ra khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng thì trẻ cần bổ sung một số vi chất dinh dưỡng (vitamin và muối khoáng), nên trẻ cần được các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng khám và theo dõi sức khỏe để cho thuốc thích hợp. Các bà mẹ không nên tự ý mua thuốc cho con vì tuy là "thuốc bổ" nhưng nếu dùng không đúng cũng sẽ gây ra hậu quả không tốt cho sức khỏe của trẻ.

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa-skds

8 giải pháp cho bé chậm tăng cân

Các mẹ có thể khắc phục ngay tình trạng tăng cân chậm bằng những điều chỉnh trong bữa ăn hàng ngày của bé.

Các mẹ thường hay lo lắng vì thấy bé tăng cân chậm. Dù bé chậm tăng cân do nguyên nhân nào thì cũng có hệ quả là bé bị thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến việc phát triển chiều cao và trí thông minh của bé.

Các mẹ có thể khắc phục ngay tình trạng tăng cân chậm bằng những điều chỉnh trong bữa ăn hàng ngày của bé.

Nấu bột/cháo của bé đặc thêm một chút. Vì bột/cháo loãng thì lượng năng lượng trong đó rất thấp.

Tăng lượng dầu mỡ trong bữa ăn của bé. Vì dầu mỡ cung cấp năng lượng gấp đôi chất bột và chất đạm. Mỗi chén bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần có một muỗng canh dầu hoặc mỡ. Không nên hạn chế lượng dầu, mỡ trong hai năm đầu đời phát triển của bé.

Tăng bữa ăn hàng ngày cho bé. Có thể cho bé ăng ngày ăn 5 - 6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Cho bé ăn thêm bữa tối trước khi ngủ. Cho trẻ ăn thêm bữa phụ. Ví dụ sau khi ăn bữa chính, nếu thấy bé ăn ít, có thể cho bé uống sữa, ăn chuối để bù đủ lượng năng lượng. Điều đó giúp bé ăn ngon miệng hơn là ép bé ăn hết khẩu bột/cháo.

Không nên ép bé ăn hết khẩu phần thức ăn khi bé đã chán. Ép bé ăn đôi khi sẽ làm bé trớ ra thức ăn ra và sẽ rất "sợ ăn", dẫn tới biếng ăn sau này. Chỉ cho bé ăn lượng vừa đủ.

Cho bé ăn phần “cái” các thực phẩm nấu trong bột và cháo. Nhiều mẹ hiện nay chỉ ninh nhừ lấy nước, hoặc xay lấy nước các thực phẩm cho bé ăn. Điều này hoàn toàn sai lầm. Thức ăn nên đủ chất dinh dưỡng nhưng phải cho bé ăn cả xác các thực phẩm. Do đó, khi chế biến phải chú ý xắt nhuyễn, nấu mềm và nêm phù hợp với khẩu vị của bé.

Không nên coi nước trái cây là bữa ăn phụ vì nước trái cây rất ít năng lượng, ít chất xơ. Nó chỉ có các vitamin hòa tan trong nước. Không nên cho bé uống nước trái cây trước khi ăn vì nó sẽ làm trẻ "ngang dạ" không muốn ăn bữa chính.

Không nên tự ý mua “thuốc bổ” quảng cáo trên thị trường cho con. Vì nếu không đúng liều lượng, sẽ gây hậu quả không tốt cho sức khỏe của bé. Nếu các mẹ muốn cho con dùng thuốc bổ, cần có sự tư vấn và chỉ định của các bác sỹ chuyên khoa.

Nên cho bé đi khám dinh dưỡng, kiểm tra sức khỏe định kỳ để theo dõi tình hình sức khỏe của bé.

Theo Afamily


Trị rôm sảy, mụn nhọt ở trẻ nhỏ

Nên tắm bé mỗi ngày để phòng rôm sảy.

Rôm sảy nếu không được vệ sinh đầy đủ có thể phát triển thành mụn nhọt. Ở trẻ bình thường, các nốt mụn nhọt sẽ khỏi trong vòng 8-10 ngày. Nhưng nếu sức đề kháng yếu, nhọt có thể mọc liên tiếp hết nốt này đến nốt khác.

Rôm sảy rất phổ biến ở trẻ em trong mùa hè, nhất là trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Nguyên nhân chính là trong thời tiết nóng nực, mồ hôi trẻ tiết nhiều không thoát ra được hết, ứ đọng trong ống bài tiết. Miệng ống dễ bị bụi, ghét bít kín khiến làn da nổi lên nhiều sẩn nhỏ lấm tấm màu hồng, mọc thành từng đám, có khi dày đặc. Càng ở những vùng mồ hôi tiết ra nhiều như trán, cổ, lưng, ngực, các nếp gấp của cơ thể... càng có nhiều rôm.

Đa số trẻ chỉ bị rôm sảy thông thường, đến khi thời tiết mát mẻ, rôm tự lặn hết không gây tác hại gì. Nhưng cũng có nhiều em ít được chú ý giữ da sạch sẽ, gãi nhiều làm da sây sát, bị nhiễm khuẩn thêm thành những mụn mủ và nhọt.

Để trẻ đỡ bị rôm và tránh da bị nhiễm khuẩn trong những ngày hè oi bức, các bậc cha mẹ nên dành cho con những gian phòng rộng rãi, thoáng mát nhất; tránh đưa trẻ đến những nơi hội họp đông người, không khí nóng ngột ngạt, hoặc chen chúc trong những phương tiện giao thông công cộng. Cho các cháu mặc quần áo vải mỏng, rộng, nhạt màu; nên chọn loại sợi tự nhiên, thấm mồ hôi, tránh dùng những loại vải dày, vải nylon bí mồ hôi. Năng tắm rửa cho trẻ để luôn luôn giữ da sạch sẽ, mồ hôi bài tiết được dễ dàng. Hạn chế các thức ăn quá ngọt như chocolate, kẹo, cho uống đủ nước. Không dùng kháng sinh hoặc bất cứ loại thuốc nào nếu không có chỉ định của bác sĩ.

Mụn nhọt, nhất là các nhọt đầu đinh, là một nhiễm khuẩn cấp tính do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) gây ra. Các cầu khuẩn này thường có sẵn trên da nhưng không gây bệnh. Về mùa hè nóng bức, mồ hôi ra nhiều nhớp nháp trên da, gây nổi rôm sảy, ngứa gãi, làm ảnh hưởng đến lớp sừng. Tụ cầu có điều kiện thuận lợi chui sâu xuống các tổ chức ở dưới, phát triển và gây bệnh. Chúng chui vào các nang lông, gây viêm nang lông và tiết ngoại độc tố làm hoại tử các tế bào chung quanh nang lông, tạo thành ngòi của những nhọt đầu đinh.

Lúc đầu, trên da xuất hiện một nốt đỏ bằng hạt đỗ. Nốt này lớn dần lên, vùng da chung quanh cũng đỏ tấy và rất đau. Đến ngày thứ 3 hoặc thứ 4, nhọt bắt đầu mềm, giữa nhọt xuất hiện một mụn mủ nhỏ. Sau đó nhọt vỡ, ở chỗ mụn mủ chảy ra mủ và cả cái ngòi trắng xanh hơi xốp, để lại một hố lõm sâu. Chỗ lõm này sẽ đầy lên nhanh chóng và nhọt sẽ khỏi trong vòng 8-10 ngày.

Những trẻ em cơ thể suy yếu, không đủ sức chống đỡ với vi khuẩn có thể bị nhọt liên tiếp; nhọt này vừa khỏi nhọt khác lại mọc lên, có khi gây ra các biến chứng nguy hiểm (viêm thận cấp, nhiễm khuẩn huyết...). Nhọt mọc ở những vị trí đặc biệt như môi trên, cánh mũi có thể gây biến chứng nặng như viêm tắc tĩnh mạch xoang hang, đe dọa tính mạng người bệnh.

Có những trường hợp nhiều nhọt mọc cạnh nhau thành cụm, kết hợp với nhau thành một mảng đỏ lớn rất đau. Trong mảng đỏ này có nhiều nhọt, khi vỡ ra thành nhiều lỗ sâu lỗ chỗ như gương sen hoặc tổ ong, dân gian gọi là nhọt tổ ong (anthrax). Trẻ rất đau, toàn trạng nặng; sốt cao, quấy khóc nhiều, dễ có biến chứng.

Trường hợp chỉ có 1-2 nhọt bắt đầu mọc, ta có thể bôi cồn iốt vào đúng chỗ nhọt, hoặc dùng cao tiêu nhọt dán lên. Nếu nhọt đã mềm, nên đến cơ sở y tế chích tháo mủ. Trường hợp nhọt mọc liên tiếp, hết đợt này đến đợt khác thì nên đến bệnh viện khám tìm nguyên nhân. Đối với những nhọt mọc ở môi trên, cánh mũi lại càng phải thận trọng, tuyệt đối không được nặn; nên đi khám bệnh sớm, điều trị tích cực để phòng biến chứng.

BS Hương Liên, Sức Khỏe & Đời Sống

====================================================================


Bước 1: Tắm cho bé với nước có pha bột ngô, bột yến mạch hay soda.

Bước 2: Trong quá trình tắm, có thể dùng xà bông có tính dịu nhẹ, hay công hiệu hơn là loại xà bông có tác dụng diệt rôm sảy. Sau khi tắm xong, dùng khăn tắm lau khô người bé.

Bước 3: Thoa kem có chứa thành phần hydrocortisone, bởi loại kem này có tác dụng trị rôm sảy. Nên thoa kem lên toàn bộ cơ thể bé.

Bước 4: Sử dụng sản phẩm có chứa axit salicylic để bôi lên nốt rôm, sảy. Loại kem này sẽ có tác dụng làm khô bề mặt da, làm se lỗ chân lông.

Bước 5: Thoa kem lại sau từ 3 đến 4 giờ.

Lưu ý: Nếu đã thử nhiều cách nhưng những nốt rôm sảy vẫn không chịu “đầu hàng”, bạn nên đưa bé đến gặp chuyên gia da liễu.

- Để ngăn chặn sự xuất hiện của rôm sảy, luôn giữ cho cơ thể được mát mẻ. Bạn cần hạn chế để trẻ đi ra nắng, tắm nước mát, uống đủ nước.

- Tránh làm trầy xước các vết rôm sảy, bởi lẽ khi bị trầy xước da, dễ dẫn đến nhiễm trùng da.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý trong việc chăm só và bảo vệ làn da mỏng manh của bé. Để làm được điều này các bậc cha mẹ chỉ cần tuân theo những tiêu chí đơn giản sau đây:

1. Hạn chế ra nắng từ 10 giờ sáng tới 4 giờ chiều

Sở dĩ bạn không nên hoặc hạn chế đến mức thấp nhất có thể để bé tiếp xúc với ánh nắng vào thời điểm này, bởi lẽ đây là khoảng thời gian các tia UVA và UVB cực độc từ mặt trời hoạt động mạnh nhất, rất dễ khiến cho da bé bị cháy nắng, bỏng rát hay nguy hiểm hơn là dẫn tới nguy cơ ung thư da.

2. “Ngụy trang” cho bé

Việc ngụy trang cho bé rất quan trọng bởi nó giúp hạn chế những ảnh hưởng xấu từ ánh nắng mặt trời. Bên cạnh việc mặc cho bé áo dày, dài tay, đeo kính râm đạt chuẩn (bởi kính rởm sẽ làm hại mắt hơn là không đeo kính), bạn cũng cần thoa kem chống nắng cho trẻ.

Khi thoa kem chống nắng chú ý thoa tất cả các vùng mà quần áo, mũ nón không thể bảo vệ được.

Ngoài ra, cần đội cho trẻ những chiếc mũ rộng vành, để giúp hạn chế ánh nắng mặt trời chiếu vào mắt.

3. Vệ sinh da sạch sẽ

Để vệ sinh da sạch sẽ, bạn nên tắm thường xuyên cho trẻ vào những ngày hè, ít nhất 1 lần/ngày. Khi tắm, có thể sử dụng các loại sữa tắm dành cho trẻ em, không dùng những loại sữa tắm có độ kiềm lớn, gây khô da. Có thể vắt thêm 1 quả chanh vào nước tắm của trẻ để tránh rôm sảy.

Giữ cho làn da luôn thoáng mát, bằng cách mặc những loại quần áo làm bằng chất liệu cotton, có khả năng thấm hút mồ hôi tốt.


======================================================================
Bệnh rôm cần được điều trị kịp thời, nếu bệnh phát nặng việc điều trị sẽ rất phức tạp. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh rôm theo kinh nghiệm dân gian do lương y Huyên Thảo (Hà Nội), xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo:

1. Dùng gừng tươi:

- Gừng tươi (để cả vỏ) rửa sạch, giã nát, dùng bông thấm nước gừng, bôi thấm lên những chỗ da nổi rôm, ngứa ngáy. Thông thường, bôi xong vài tiếng thì rôm lặn; mỗi ngày có thể bôi 2-3 lần.

- Lấy một mẩu gừng, cỡ ngón tay, giã nhỏ, sắc với khoảng 2 lít nước. Đun sôi, để nước nguội thì tắm. Mỗi ngày tắm một lần vào buổi sáng. Kinh nghiệm cho thấy, đối với trẻ nhỏ, rôm sảy mọc dày đặc, tắm liên tục 3-4 ngày, đã thấy kết quả. Tuy nhiên chớ nên sắc quá đặc. Để tránh trẻ bị dị ứng, lần đầu chỉ nên dùng ít gừng, sau đó sẽ tăng dần liều lượng.

2. Dùng lá dâu tằm:

Hái lá dâu tằm, khoảng 200g, cho vào túi vải, nấu với khoảng 5 lít nước, đun sôi, chờ đến nước ấm thì tắm. Tắm xong lau khô, rồi bôi (hoặc rắc) bột đậu xanh vào những chỗ rôm mọc (đậu xanh cả vỏ, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần). Thông thường, tắm liên tục 3-5 ngày là rôm hết mọc.

3. Dùng lá bọ mẩy:

- Uống trong: Dùng lá bọ mẩy tươi 50g (trẻ nhỏ giảm bớt liều), sắc 2 lần, chia 2 lần uống sáng và chiều tối; liên tục 3-5 ngày.

- Bôi ngoài: Dùng lá bọ mẩy tươi 70-100g, bạc hà 15g. Sắc lá bọ mẩy lấy nước đặc, trước khi bắc ra thì cho bạc hà vào, đun sôi lại là được. Dùng nước thuốc xát rửa chỗ bị bệnh, ngày 2-3 lần.

(Cây bọ mẩy còn có tên là "bọ nẹt", "đại thanh", "đắng cay", "mẩy kỳ cáy", "thanh thảo tâm", "lộ biên thanh",...).

Yeucon.org tổng hợp từ nhiều nguồn


Xe tập đi: Hại nhiều hơn lợi

Thiết kế của xe tập đi không tạo thuận lợi cho kiểu đi bình thường; Ở Canada, chính phủ cấm bán và nhập loại xe tập đi có bánh xe Bé biết đi, đây là một cột mốc mong đợi khi nuôi con của các bậc cha mẹ.

Ai cũng sẵn sàng với một giá nào đó để bảo đảm đứa con yêu của mình đến ngày đến tháng sẽ biết đi, nếu sớm hơn càng tốt. Xe tập đi là một kiểu đáp ứng cho nhu cầu này của các bậc cha mẹ. Xe tập đi thuyết phục các bậc cha mẹ rằng đây là cách giúp bé sớm biết đi, ngoài ra xe tập đi còn là người bạn giúp em bé chơi, để mẹ rảnh làm tay làm việc nhà.

Trẻ đi xe tập đi sớm dễ có nguy cơ chân không phát triển bình thường - Ảnh: K.LAN

Trẻ chậm biết đi do ngồi xe sớm

Người ta đã làm một công trình nghiên cứu đối chứng với 109 trẻ nhỏ tuổi từ 6 tháng đến 15 tháng. Kết quả là, trẻ sử dụng xe tập đi, mốc biết đi không sớm hơn, thậm chí còn trễ hơn trẻ không sử dụng xe tập đi. Chức năng đứng, đi của trẻ bình thường phát triển theo trình tự hợp lý, tự nhiên.

Cần biết rằng sự phát triển của trẻ theo một trình tự tự nhiên là mẫu phát triển bình thường, chẳng hạn khi trẻ lật sấp là lúc chuẩn bị cho khả năng ngồi, khi đã ngồi vững thì trẻ sẽ học bò, khi trẻ hoạt động nhịp nhàng đôi chân bò đi, đó là bài tập rèn luyện hai chân để bé sẵn sàng cho giai đoạn tập đi.

Như vậy, trẻ sẽ đi khi trẻ đã sẵn sàng để đi, có nghĩa là trẻ đã có đôi chân đủ mạnh, đôi bàn chân vững chắc, có khả năng kiểm soát thăng bằng. Để có được những khả năng này, hãy cho trẻ trải nghiệm các hoạt động bò, đứng, đi theo cách cổ điển, chắc chắn rằng trẻ sẽ biết đi đúng thời gian của trẻ.

Trong khi đó, thiết kế của xe tập đi không tạo thuận lợi cho kiểu đi bình thường. Trong xe tập đi, trẻ có khuynh hướng ngồi trên miếng lót đỡ khung chậu và dùng các đầu ngón chân để đẩy xe đi. Như vậy, trẻ không có cơ hội để hai bàn chân đứng chịu sức, cơ hội cho hai đầu gối co duỗi kiểu bước đi cũng không xảy ra. Không ít trường hợp trẻ chậm phát triển, khi sử dụng xe tập đi, trẻ vẫn không cải thiện được chức năng đi. Ví dụ mới đây, một bé 18 tháng đến Khoa Phục hồi chức năng với lý do chưa biết đi mặc dù mẹ bé đã cho bé vào xe tập đi rất sớm lúc 7 tháng tuổi.

Nguy cơ chấn thương

Nguy cơ chấn thương từ xe tập đi là vấn đề quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Ở Mỹ, năm 1997, có hơn 14.000 em bé bị chấn thương phải cấp cứu và có không ít trường hợp tử vong liên quan đến xe tập đi. Sau khi Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ có khuyến cáo việc sản xuất và bán các xe tập đi có bánh xe, các nhà sản xuất đã cho ra nhiều mẫu mã khác, tỉ lệ chấn thương có giảm nhưng các nhà chuyên môn Mỹ xác định rằng điều này không có nghĩa là xe tập đi kiểu mới có khả năng ngăn ngừa được tai nạn xảy ra. Ở Canada, chính phủ cấm bán và nhập loại xe tập đi có bánh xe.

Các bậc cha mẹ có con nhỏ không nên ỷ lại vào xe tập đi. Thay vào đó, chỉ cho trẻ vào xe tập đi thời gian ngắn, nên tạo cơ hội cho trẻ có những hoạt động bò, vịn đứng lên... Luôn để mắt đến trẻ, đừng bỏ trẻ một mình vì trẻ dễ gặp tai nạn với xe tập đi. Nên làm cửa chặn ở các đầu cầu thang, bậc tam cấp vì bánh xe tập đi trơn dễ đẩy trẻ đi xa khó kiểm soát làm trẻ dễ bị té và chấn thương.

Ngoài ra, tuyệt đối không cho trẻ lại gần bếp, vật dụng nóng khi trẻ ngồi trên xe tập đi. Không để trẻ ở gần nhà vệ sinh, hồ nước, thùng nước hoặc bất kỳ nguồn nước. Thận trọng với những vật dụng sắc nhọn, dây điện.

Trẻ dễ bị chân vòng kiềng

Ngoài việc làm trẻ chậm biết đi hay dễ gặp tai nạn do xe tập đi, các bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình nhi còn khẳng định xe tập đi làm chân trẻ bị cong hình vòng kiềng. Lý do là hầu hết trẻ được cho ngồi xe tập đi sớm, khi trẻ còn rất nhỏ và xương bàn chân cũng như xương cẳng chân chưa đủ cứng để trẻ có thể tự đứng được. Tuy nhiên, do xu hướng tự nhiên, khi trẻ được bỏ vào xe tập đi, trẻ thường dùng những đầu ngón chân để đẩy những bánh xe chạy đi.

Do xương chân còn yếu và trẻ phải cố gắng nhón ngón chân để chịu lực đẩy bánh xe nên chân trẻ không phát triển thẳng bình thường, xương cẳng chân dễ bị biến dạng cong vòng kiềng. Ngoài ra, trẻ ngồi xe tập đi quá sớm khi đôi chân chưa trụ vững để chịu trọng lượng của cơ thể cũng làm chân trẻ bị cong.

Bác sĩ HÀ KIM YẾN (Bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM) - Báo Người lao động

Nguyên nhân gây hôi miệng ở bé

Trong quá trình ngủ, các loại vi khuẩn có dịp 'sinh nở' trong khoang miệng của bé và gây nên hiện tượng hơi thở bé có mùi hôi vào buổi sáng ngày hôm sau. Đây được gọi là chứng 'hơi thở buổi sáng' của bé mà nguyên nhân phần lớn là do vệ sinh kém.

Để khắc phục điều này, bạn nên lưu ý một số điểm sau:

- Súc miệng hoặc lau, rửa khoang miệng cho bé bằng nước đun sôi để nguội, pha muối nhạt trước khi bé đi ngủ (hoặc sau khi bé ăn), cho dù đó chỉ là giấc ngủ sau khi bạn cho bé “ti đêm”.

- Ngay khi bé mới có một vài chiếc răng, bạn nên duy trì việc đánh răng trước giờ đi ngủ cho bé. Nên dùng bàn chải mềm và kem đánh răng dành riêng cho bé.

Những nguyên nhân khác làm miệng bé không còn thơm mùi sữa

Vi khuẩn: Nếu bé có thói quen mút (hoặc liếm) một món đồ chơi thì bé sẽ vô tình kéo theo những con vi khuẩn có hại vào trong miệng. Nếu thói quen này được duy trì thường xuyên thì khả năng bị hôi miệng ở bé càng lớn.

Một số trường hợp, khi cha mẹ giúp bé chấm dứt hành vi mút đồ chơi thì mùi hôi trong miệng của bé cũng giảm dần.

Nếu dấu hiệu hôi miệng ở bé không thuyên giảm, bạn nên đưa bé đi khám. Có thể bé bị sâu răng, nhiễm khuẩn đường miệng hoặc có vật lạ mắc vào khoang miệng của bé.

Chứng viêm xoang. Chứng bệnh này khiến miệng của bé bị khô và hơi thở trở nên có mùi khó chịu.

Nguyên nhân là do nước bọt có chức năng ngăn chặn những loại vi khuẩn gây hại và thúc đẩy những loại vi khuẩn có lợi trong miệng bé. Khi lượng nước bọt suy giảm, miệng bé khô và vi khuẩn gây hại sẽ có cơ hội “hoành hành”.

Chứng viêm xoang cũng khiến bé khó thở bằng mũi mà phải chuyển sang thở bằng miệng. Cách thở này khiến cho miệng của bé bị khô và làm yếu khả năng tiết nước bọt. Khi ấy, vi khuẩn bên ngoài dễ dàng tấn công vào khoang miệng và khiến miệng của bé có mùi hôi.

Thói quen ngậm bình sữa: Chất đường có trong sữa là môi trường nuôi dưỡng vi khuẩn phát triển. Những món bánh hoặc nước uống có chứa đường cũng nguy hiểm tương tự.

Một yếu tố khác làm tăng khả năng hôi miệng là: Lưỡi bé bám nhiều cợn trắng; bé bị viêm amidan, viêm họng; bé bị dị ứng thời tiết. Dị ứng có thể gây nên tình trạng chảy nước mũi ở bé, tạo điều kiện cho những loại vi khuẩn có hại gây hôi miệng; bé có những nốt đỏ trong miệng (bé mắc chứng cam)…
Yeucon.org tổng hợp