Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh dưỡng 6 tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh dưỡng 6 tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng

4 loại thực phẩm trẻ cần mỗi ngày


Căn cứ vào độ tuổi, nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm hệ tiêu hóa của riêng mỗi trẻ mà các mẹ có thể bổ sung dưỡng chất cần thiết cho con mình.
Các chuyên gia dinh dưỡng trẻ em đã phân chia dinh dưỡng cho trẻ theo độ tuổi và cụ thể là chia thành 3 nhóm sau: nhóm từ 0-12 tháng tuổi, nhóm từ 1-3 tuổi và nhóm từ 3-6 tuổi.

Protein

Việc cung cấp các loại thực phẩm protein dựa trên sự tăng trưởng và phát triển ở trẻ nhỏ là rất quan trọng. Trẻ càng lớn thì nhu cầu về protein càng cao. Những loại thực phẩm có chứa nhiều protein là sữa, trứng, thịt nạc, gan, đậu nành và các sản phẩm từ đậu. Tùy theo điều kiện kinh tế mà người lớn có thể lựa chọn những loại thực phẩm phù hợp để cung cấp protein cho con mình.

Vitamin C và các khoáng chất chủ yếu

Vitamin C có nhiều trong các loại rau củ, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên các bà mẹ nên lựa chọn những loại rau có màu đậm như cà rốt, ớt chuông, rau cần, cà tím, rau bina… Đây là những loại rau cung cấp lượng vitamin A dồi dào cho cơ thể.
Trong các loại rau như củ cải, súp lơ… có chứa một lượng vitamin C nhất định cần thiết cho cơ thể. Bên cạnh những loại rau củ trên thì táo, chà là, cam, quýt, bưởi… cũng là nguồn cung cấp khoáng chất quan trọng giúp cơ thể phát triển toàn diện hơn.

Các chuyên gia cho rằng, màu sắc và hương vị của các loại trái cây có tác dụng kích thích sự thèm ăn của trẻ sơ sinh. Khi cho trẻ ăn hàng ngày, người lớn chú ý bổ sung thêm nhiều loại rau củ và trái cây vào thực đơn của trẻ cho phù hợp.

Nhưng bạn nên nhớ rằng khi bổ sung rau xanh vào chế độ ăn uống của trẻ, bạn cần tránh lỗi chỉ dập khuôn cho trẻ ăn một số loại rau xanh quen thuộc. Mà thay vào đó nên đa dạng các loại rau để trẻ không cảm thấy chán.

Ngũ cốc, chất béo và đường

Chất béo, đường và ngũ cốc là 3 loại chất cần thiết để cung cấp năng lượng cho cơ thể. Ở trẻ em, ngũ cốc có thể cung cấp từ 50-60% số năng lượng cần thiết cho cơ thể.

Ngũ cốc cung cấp năng lượng (đường glucozơ) cần thiết cho hoạt động của não. Thêm vào đó, những chất xơ có trong ngũ cốc sẽ giúp điều chỉnh hài hoà lượng đường glucozơ có trong cơ thể.

Ngoài ra, trong thành phần của ngũ cốc còn có chứa hàm lượng vitamin B giúp nuôi dưỡng hệ thần kinh khoẻ mạnh. Chính vì thế, bạn đừng quên bổ sung ngũ cốc mỗi ngày trong khẩu phần ăn uống của con.

Chất đường quan trọng với sức khỏe của trẻ, tuy nhiên người lớn không nên cho trẻ ăn quá nhiều đường vì như vậy sẽ khiến trẻ dễ bị sâu răng hoặc bị béo phì.
Các loại gia vị

Gia vị gồm muối, nước tương, nước mắm, giấm… Khi chế biến thức ăn hàng ngày cho trẻ, người lớn nên chú ý cho một lượng phù hợp các loại gia vị để thúc đẩy sự thèm ăn của trẻ.

Trẻ ăn chung mâm nhưng phải riêng món


Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, cho nên không thể áp dụng các món ăn của người lớn cho trẻ, nhất là với các trẻ dưới năm tuổi.

Nếu ăn chung các món ăn của người lớn, trẻ phải ăn rất nhiều, bằng không sẽ thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng. Ảnh: Hồng Thái

Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ khác người lớn

Nếu tính theo cân nặng cơ thể, nhu cầu năng lượng, chất đạm, chất béo, chất bột đường, các vitamin và khoáng chất của trẻ cao hơn rất nhiều so với người lớn. Ngoài ra, có những khoáng chất trẻ không nên ăn nhiều do chức năng thận chưa hoàn chỉnh, khả năng lọc của cầu thận còn yếu, ví dụ muối ăn, trẻ dưới một tuổi khi nấu ăn không cần cho mắm muối vì nhu cầu muối của trẻ là rất nhỏ (ít hơn 1g mỗi ngày với trẻ từ 12 tháng tuổi trở xuống) và nhu cầu này đã được đáp ứng bằng sữa hoặc muối có sẵn trong các thực phẩm tự nhiên.

Dung tích dạ dày của trẻ tuy nhỏ nhưng nhu cầu năng lượng và chất dinh dưỡng lại cao, vì vậy món ăn của trẻ phải giàu năng lượng, cao chất đạm và chất béo. Khi chế biến, phải đảm bảo dù trẻ ăn ít nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng. Nếu ăn chung các món ăn của người lớn, trẻ phải ăn rất nhiều, bằng không sẽ thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng.

Theo tính toán “Nhu cầu năng lượng và chất dinh dưỡng của trẻ em và người lớn/ngày”, thì nhu cầu của trẻ rất cao. Nếu tính theo kilogram cân nặng, trẻ cần từ 80 – 120 kcalo/kg/ngày, trong khi người lớn chỉ cần 40 – 45 kcalo/kg/ngày. Hay chất đạm cũng vậy, trẻ cần 2 – 3g/kg/ngày, người lớn chỉ cần 0,8 – 1g/kg/ngày. Đặc biệt chất béo, nếu tính theo phần trăm năng lượng do chất béo cung cấp trong ngày thì rất cao so với người lớn. Trẻ càng nhỏ nhu cầu chất béo càng cao. Vì vậy, ăn chung món với người lớn không thể đáp ứng đủ nhu cầu chất béo cho trẻ. Khi thiếu chất béo, trẻ bị thiếu năng lượng, không hấp thu được các loại vitamin tan trong dầu mỡ như vitamin A, D, E, K… trẻ sẽ bị còi xương, chậm phát triển chiều cao. Ngoài ra, nhu cầu về các vitamin và chất khoáng của trẻ nếu tính theo cân nặng cũng cao hơn nhiều so với người lớn. Một điều cũng rất quan trọng, như đã nói ở trên, trẻ cần ăn nhạt hơn người lớn, nên nếu ăn chung món với người lớn, trẻ sẽ bị thừa muối, là nguyên nhân gây bệnh tăng huyết áp, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch sau này. Hơn nữa, trẻ nhỏ không thể nhai thức ăn của người lớn. Thức ăn cần băm nhỏ, thái nhỏ, hầm nhừ thì trẻ mới tiêu hoá được. Ngay cả khi trẻ đã ăn cơm thì cơm cũng phải nấu nát hơn người lớn. Trẻ cần ăn thêm các bữa phụ như cháo, mì, súp, sữa… mới đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng hàng ngày, chứ không thể chỉ ăn ba bữa như người lớn. Các món ăn để ăn với cơm như thịt, cá, tôm, canh… phải cho nhiều dầu mỡ hơn.

Mẹ chịu khó, con khoẻ mạnh

Để trẻ phát triển tốt, khoẻ mạnh, các bà mẹ nên chế biến món ăn riêng cho trẻ. Không nên vì ngại nấu hoặc không có thời gian mà cho trẻ ăn chung các món ăn của người lớn. Món ăn nấu riêng nhưng đến bữa lại cần cho trẻ ăn cùng với người lớn, nhất là khi trẻ đã trên một tuổi, để trẻ tập xúc thức ăn. Ngồi ăn cùng bố mẹ, ông bà… trẻ sẽ có hứng thú ăn hơn. Ăn cùng người lớn còn giúp trẻ tập nhai thức ăn, tránh chứng biếng ăn sau này do không biết nhai.

Thông thường khi trẻ còn nhỏ, vẫn trong giai đoạn ăn bột, cháo... thực đơn của trẻ được cha mẹ chú ý hơn, nhưng càng về sau khi trẻ đã ăn được cơm thì mối quan tâm này có vẻ như ngày càng lơi lỏng và điều này sẽ tác động xấu đến sự phát triển của trẻ, nhất là trẻ ở nông thôn hoặc ở các gia đình thiếu sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ dẫn đến trẻ càng lớn càng bị còi cọc, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi cao.

Bữa ăn của trẻ đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của trẻ về sau. Nếu các gia đình thực sự quan tâm và bố trí phù hợp thực đơn hàng ngày, trẻ sẽ lớn lên khoẻ mạnh, thông minh.

ThS.BS Lê Thị Hải
Giám đốc trung tâm khám – tư vấn dinh dưỡng,
viện Dinh dưỡng quốc gia

Tăng sức đề kháng, chống bệnh tật cho con

Ăn nhiều thịt quá làm não bé phản ứng chậm

Mỗi khi có người hỏi cân nặng của Nhím, mẹ bé than thở: “Chán quá. Nhím cứ nay ốm, mai đau. Hết sổ mũi, viêm họng lại sốt. Uống kháng sinh vào hại người, làm sao lớn được”.


Để tăng sức đề kháng cho các bé, có thể “chống” lại những bệnh thường gặp, không phải uống thuốc thường xuyên, bố mẹ chỉ cần lưu ý một chút đến chế độ chăm sóc bé hàng ngày.

Chăm sóc giấc ngủ của bé

Ở lứa tuổi nào, từ lúc mới sinh đến khi bé đi học lớp 1, bố mẹ hãy luôn quan tâm đến giấc ngủ của bé. Làm sao để bé ngủ ngon, sâu giấc.

Điều này rất quan trọng vì tuyến yên ở cơ thể trẻ nhỏ có thể tiết ra yếu tố kích thích tăng trưởng trong khi bé ngủ. Do đó, bé cần ngủ ít nhất 8 tiếng mỗi ngày. Nó cũng giúp cho bé tăng chiều cao đặc biệt với bé dưới 4 tuổi.

Xây dựng và duy trì một thói quen ngủ tốt, đúng giờ sẽ giúp bé ngủ ngon, phát triển tốt và thức dậy một cách sảng khoái, thoải mái.

Ăn quá nhiều thịt lại làm não bé phản ứng chậm.

Không nên ăn quá nhiều thịt

Thịt là thức ăn có nhiều chất đạm. Bố mẹ nào cũng muốn cho con ăn nhiều thịt để con phát triển và thật thông minh. Nhưng ăn quá nhiều thịt lại khiến não bé hoạt động và phản ứng một cách chậm chạp.

Một số khoa học đã chứng minh rằng trong thực đơn hàng ngày của bé, nếu lượng thịt nhiều hơn các thành phần khác trong món ăn, sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trí lực của bé.
Vì vậy, bố mẹ nên cho bé ăn nhiều rau quả tươi để cân bằng dinh dưỡng, giúp bé tiêu hóa tốt, cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể bé phá triển đầy đủ.

Không cho bé ăn đồ lạnh

Bố mẹ hay chiều theo sự đòi hỏi của các bé, cho bé ăn kem, sữa chua, váng sữa... vừa lấy trong tủ lạnh ra, hoặc các thức ăn của bé để trong tủ lạnh chưa kịp hâm lại. Điều này sẽ tạo cho một số virus gây bệnh phát triển, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ở bé như viêm họng, viêm phế quản...
Tất cả những thức ăn, thực phẩm có nhiệt độ dưới 25 độ C đều phải được đun nóng, hấp cách thủy trước khi cho bé ăn.

Hạn chế bé ăn quá nhiều đồ ngọt

Các bé thường rất thích ăn bánh kẹo nhưng điều này lại có hại cho bé. Bố mẹ nào cũng biết ăn quá nhiều đường sẽ dễ làm bé bị béo phì, mắc các bệnh về đường răng miệng như viêm lợi, sâu răng.

Nhưng không phải bố mẹ nào cũng biết ăn đồ ngọt cũng như ăn món ăn nhiều đạm đều không có lợi cho hoạt động gan và não của bé. Nếu bé ăn đồ ngọt trong một thời gian dài sẽ dễ hình thành thể chất axit ảnh hưởng đến sự phát triển trí lực và sức đề kháng của bé.
Các nhà khoa học khuyến cáo bố mẹ không nên cho bé ăn quá nhiều đường và những loại bánh kẹo, nước ngọt, thực phẩm được chế biến từ đường để bảo vệ bé một hoàn toàn.

Theo Afamily

Rau quả cho trẻ em

Rau củ quả là nguồn thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ… nên vừa có lợi cho sức khỏe, vừa giúp phòng chống bệnh tật.

Hãy khám phá nguồn dinh dưỡng tuyệt vời của 10 loại rau củ được xem là bổ dưỡng nhất trong “thế giới” rau hiện nay.

1. Cà rốt

Một ly cà rốt tươi chứa đến 34.317 IU vitamin A. Trong cà rốt cũng rất giàu beta carotene (hay còn gọi tiền vitamin A), giúp bảo vệ mắt và ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư. Loại cây ăn củ này còn chứa nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất khác như: vitamin B, C, K, chất xơ, kali, mangan, phốt pho, magiê, folate.

2. Khoai lang

Khoai lang nướng lò cả vỏ cũng dồi dào nguồn vitamin A, beta – carotene và các chất chống oxy hóa. Ngoài ra, trong khoai lang còn chứa vitamin B6, vitamin C, khoáng chất đồng, sắt, mangan, kali, chất xơ. Đặc biệt khoai lang tím là loại khoai giàu antoxian và các hoạt chất chống oxy hóa nhất.

3. Cà chua

chua còn giàu dưỡng chất hơn với khoảng trên 20 loại vitamin và khoáng chất. Một ly cà chua chín đỏ có thể cung cấp cho bạn số lượng lớn vitamin A, C và K. Bên cạnh đó cà chua cũng chứa kaki, mangan, crôm, vitamin B1, B6, folate, đồng, sắt và nhiều dưỡng chất thiết yếu khác.

Đặc biệt, hàm lượng lycopene cao trong cà chua còn là chất dinh dưỡng thực vật quan trọng có khả năng chống oxy hóa và chống ung thư.

4. Đậu nành

Đậu nành là một trong những loại thực phẩm giúp tăng cường sức khỏe được giới nghiên cứu đánh giá là tốt nhất trên thế giới hiện nay. Một ly đậu nành (đã nấu chín) có thể cung cấp cho cơ thể bạn rất nhiều dưỡng chất cần thiết như: protein, mangan, tryptophan, và hơn 10 loại chất dinh dưỡng quan trọng khác bao gồm: axít béo Omega-3, chất xơ, kali…

Chỉ cần một ly đậu nành, bạn đã bổ sung được hơn 50% nhu cầu protein cần thiết cho mỗi ngày.

5. Măng tây

Măng tây từ xa xưa đã được y học cổ truyền công nhận có tác dụng phòng chữa được nhiều bệnh như: tim mạch, cao huyết áp, ung thư, đái tháo đường, viêm bàng quang… Chồi măng tây màu xanh là nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng nhất. Một chén măng tây luộc cũng có thể cung cấp một nguồn tuyệt vời vitamin A, C, K, folate.

Măng tây còn chứa hơn 10 loại vitamin và khoáng chất, trong đó có vitamin B tổng hợp, kali, chất xơ…

6. Ớt chuông

Ớt chuông với bề ngoài bóng đẹp, màu sắc sinh động (xanh, đỏ, tím, vàng…) vừa dùng để ăn, vừa dùng trang trí trong các bàn tiệc.

Ớt chuông đa sắc màu và cũng đa dinh dưỡng. Một chén ớt chuông tươi, sắt mỏng có thể cung cấp cho bạn khoảng 5.244 mg vitamin A (đáp ứng hơn 100% nhu cầu cần thiết hàng ngày).

Đây cũng là một nguồn cung cấp vitamin C, B6, chất xơ, mangan, folate cực kỳ tốt.

7. Rau bina

Dinh dưỡng trong rau bina phải nói là đáng tự hào với cả kho hơn 35 loại vitamin và dưỡng chất thiết yếu.

Một chén rau bina luộc có thể giúp bạn bổ sung được khoảng hơn chục chất dinh dưỡng. Đáng ngạc nhiên hơn là nó còn cung cấp cho cơ thể hàm lượng vitamin A gấp 3 lần nhu cầu cần thiết hàng ngày và hơn 1.000% lượng vitamin K khuyến cáo đòi hỏi cần bổ sung mỗi ngày vì trong đó chứa tới 1.023 mcg vitamin K. Ngoài ra nghiên cứu còn tìm thấy trên loài rau xanh sậm lá này chứa nhiều flavonoid, một hợp chất có tác dụng chống độc tố, chống oxy hóa cao.

8. Cải bruxen

Cải bruxen - một loại bắp cải nhỏ rất giàu vitamin E, canxi, đồng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng chế độ ăn rau thuộc họ cải cao như cải bruxen, súp lơ, bắp cải, cải hoa… có thể làm giảm nguy cơ một số bệnh ung thư (ung thư phổi, ruột kết, ung thư vú, ung thư buồng trứng).

Một chén rau cải bruxen luộc cũng cung cấp cho bạn nguồn vitamin C, K, B complex, chất xơ, kali và vitamin A, một trong những chất chống oxy hóa quan trọng tìm thấy trong tự nhiên.

9. Súp lơ

Thành phần dinh dưỡng trong súp lơ rất giàu sắt, kẽm, vitamin E và hơn 20 loại chất thiết yếu khác. Súp lơ có thể ăn sống, luộc, hấp, xào, tuy nhiên việc hấp, xào súp lơ để ăn được khuyên dùng nhiều hơn vì cách thức chế biến này không làm giảm sự hiện diện của các hợp chất chống ung thư chứa trong loại rau này.

Một chén súp lơ có thể cung cấp cho bạn nguồn dinh dưỡng dồi dào vitamin A, C, K, folate, chất xơ, 505 mg kali và 102 mg phốt pho.

10. Cải xoăn

Trong cải xoăn cũng chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng và chất chống oxy hóa. Một chén rau cải xoăn nấu chín, luộc, để ráo nước, không cho thêm muối chứa 1.062 mcg vitamin K và 9.620 IU vitamin A (đáp ứng gấp đôi nhu cầu lượng vitamin cần thiết mỗi ngày).

Ngoài ra, cải xoăn còn rất giàu vitamin C, mangan, chất xơ, đồng, canxi, kali, các chất dinh dưỡng từ thực vật như glucosinolate và flavonoid, lutein, zeanthin. Theo Phụ Nữ

Chữa biếng ăn ở trẻ

Theo y học cổ truyền, chứng biếng ăn ở trẻ em thuộc phạm vi các bệnh tỳ, vị, do 3 nguyên nhân chủ yếu là ăn uống tích trệ, vị nhiệt, tân dịch thương tổn và tỳ khí hư nhược. Tùy theo từng nguyên nhân, cách điều trị có khác nhau.

Do ăn uống tích trệ: Những trẻ này thường có biểu hiện: hôi miệng, rêu lưỡi dày bệu, bụng chướng ấm ách, ngủ không yên, hay mê man, đại tiện bất thường, phân khắm.

Dùng bài thuốc sau: Kê nội kim (màng mề gà) 30g rửa sạch, phơi khô, sao vàng rồi tán thành bột. Khi dùng, thêm chút đường kính vào trộn đều để uống. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 0,5g (với trẻ dưới 3 tuổi), 1g (với trẻ 3-5 tuổi) và 1,5g (với trẻ từ 6 tuổi trở lên). Dùng liên tục trong 7 ngày.

Do vị nhiệt, tân dịch thương tổn: Biểu hiện của thể bệnh này là chất lưỡi đỏ, vài ba ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô táo.

Bài 1: Cà bát tươi 1 quả (khoảng 150g) rửa sạch, gọt bỏ vỏ, thái nhỏ, để cả hạt, ép lấy nước uống, ngày uống 2 - 3 lần. Uống trong 3 ngày.

Bài 2: Ô mai 5g, thạch hộc tươi 10g, lô căn tươi 30g, sắc nước uống thay trà nhiều lần, dùng chữa mùa hè trẻ chán ăn, vị nhiệt, tân dịch hao tổn.

Do tỳ khí hư nhược: Thường kèm theo lưỡi nhạt màu, phân hơi nát hay bị tiêu chảy.

Bài 1: Thịt lươn 250g, màng mề gà 6g. Lươn dùng muối tuốt cho hết nhớt, mổ bỏ hết phủ tạng rửa sạch, thái thành từng khúc. Màng mề gà sao khô tán nhỏ thêm chút muối và gia vị trộn đều với thịt lươn hấp chín, có thể làm thức ăn cho trẻ trên 3 tuổi.

Bài 2: Bột thịt cóc 10g nên mua ở các cơ sở y tế, lòng đỏ trứng gà 2 cái, chuối ngự 12g, chuối sấy khô nhưng còn dẻo, giã nhuyễn thêm trứng gà đánh tan, sấy khô tán bột. Ba thứ trộn lại giã nhuyễn sấy khô đóng thành viên hoặc cho vào lọ ăn dần. Trẻ em dưới 1 tuổi uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê, trẻ em trên 3 tuổi mỗi lần 3 thìa cà phê.

Bài 3: Cá diếc 100g, ý dĩ nhân 30g, cùng nấu canh, có thể ăn 3 - 5 ngày liền, dùng chữa tỳ vị hư nhược.

Ngoài việc sử dụng các món ăn - bài thuốc trên, chúng ta cần phải:

- Cho trẻ ăn uống đúng giờ, ăn có mức độ, ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng, ấm và nấu nhừ.

- Không cho trẻ ăn quá no, không cho trẻ ăn những thức ăn sống lạnh, những món xào nấu quá béo.

- Khi trẻ bắt đầu hồi phục cần tăng lượng thức ăn từ ít đến nhiều. Chia làm nhiều bữa nhỏ để trẻ có thể ăn hết suất giúp hấp thụ được hết chất dinh dưỡng của món ăn nhằm, tăng sức đề kháng với bệnh tật.

Bác sĩ Trần Thuấn - SKĐS