Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hay gặp ở bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hay gặp ở bé. Hiển thị tất cả bài đăng

Trẻ bị ho không cần kiêng tôm, cua, gà


Theo dân gian, trẻ bị ho cần phải kiêng khá nhiều thứ như cua, tôm, thịt gà, rau cải... nhưng theo các bác sĩ, chưa có chứng cứ khoa học cho thấy những thực phẩm này khiến trẻ ho nặng hơn.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, trẻ bị ho thường biếng ăn và cần có cách chăm sóc đặc biệt để bình phục nhanh chóng. Trẻ bị ho có thể do rất nhiều nguyên nhân nhưng việc kiêng ăn cho trẻ trong thời gian này là hết sức sai lầm.

Yếu hơn vì kiêng ăn

Bác sĩ Nguyễn Tuyết Xương, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết, ho là phản ứng bình thường khi bộ máy hô hấp bị kích thích, như khi thở hít phải hơi hóa chất, khói bụi... hoặc bị dị vật rơi vào đường thở như sặc nước, sặc thức ăn, vật lạ chui vào mũi, ngứa mũi... Thậm chí thành ngực bị nước lạnh kích thích cũng có thể gây ho.

Về bệnh lý, ho có thể do hen suyễn, do viêm nhiễm vi khuẩn, hoặc virus. Khi trẻ bị ho nhiều, có thể kèm theo sốt, hoặc sau cơn ho bị nôn ói, tiếng thở rít..., cần đưa trẻ tới bệnh viện khám để chẩn đoán nguyên nhân chính xác và điều trị kịp thời. Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn đảm bảo sức khỏe cho trẻ cũng là biện pháp rất cần thiết để trẻ nhanh chóng phục hồi.

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hướng, Hội Đông y Việt Nam, với Tây y, người bị ho không cần phải kiêng ăn thứ gì. Chỉ riêng người bị ho do hen suyễn cần tránh những thức ăn mà người bệnh hay bị dị ứng gây ho nói riêng, lên cơn hen nói chung như trứng, tôm, cua, cá, sữa bò... Nếu không dị ứng, không cần kiêng ăn. Nếu điều trị ho bằng Đông y, việc kiêng ăn tùy theo thang thuốc, vị thuốc. Tuy nhiên, thực tế có nhiều lương y mới hành nghề, kinh nghiệm chữa trị còn ít, kiến thức về y lý Đông y hạn hẹp nên thường yêu cầu người bệnh kiêng quá nhiều thứ, kể cả những thứ đang rất cần cho cơ thể người bệnh khiến nhiều người yếu hơn, mất sức đề kháng do cơ thể thiếu chất dinh dưỡng.

Cho trẻ ăn món dễ tiêu


Theo bác sĩ Lâm, khi trẻ bị ốm, ho, cơ thể mệt mỏi dễ dẫn đến chán ăn, ăn ít hoặc bỏ ăn. Nếu trẻ không chịu ăn như bình thường hoặc ăn ít hơn, có thể cho trẻ ăn thành nhiều bữa. Cha mẹ cần chú ý, không nên nấu loãng thức ăn hơn thường lệ vì điều đó khiến trẻ đã ăn ít lại càng bị thiệt thòi về chất dinh dưỡng. Vẫn duy trì cho mỡ, dầu vào bột hay cháo của trẻ ngay cả khi trẻ bị sốt kèm theo tiêu chảy.

Theo dân gian, khi bị ho không nên ăn cua, tôm, thịt gà… Chưa có chứng cứ khoa học nào chứng minh những thực phẩm này gây ho cho trẻ cả. Vì vậy, cha mẹ có thể hoàn toàn yên tâm làm đa dạng bữa ăn để trẻ được thay đổi khẩu vị, ăn được nhiều hơn và mau khỏe hơn.

Trẻ rất cần ăn những món có nhiều nước, dễ tiêu nhưng cũng đầy đủ dưỡng chất như súp, cháo, sữa... Nên cho trẻ ăn những thực phẩm giàu sinh tố A, giàu chất kẽm và chất sắt như: các loại thịt bò, gà, trứng, rau có màu xanh, đỏ.

Cần hạn chế những món ăn chế biến có quá nhiều mỡ như chiên, xào… Đối với món cá, đôi khi trẻ có cảm giác tanh, dễ gây nôn, do vậy nên đợi sau khi bé hết bệnh hãy cho ăn trở lại.

Không nên cho trẻ ăn thực phẩm lạnh, uống nước, sữa lạnh hoặc quá nhiều các thực phẩm béo, ngọt, vị đậm. Cũng không nên cho trẻ ăn lạc, hạt dưa, chocolate bởi đây là nhóm thực phẩm chứa dầu, có thể làm tăng lượng đờm khi ăn. Không nên cho trẻ ăn quýt vì khiến cơ thể sinh nhiệt, sản sinh ra nhiều dịch đờm hơn.

Trẻ ho nhiều có thể nôn ra thức ăn vừa mới ăn xong kèm theo nhiều đờm nhớt, vì thế trước khi cho trẻ ăn nên cho uống vài thìa nước, sau đó cho trẻ nằm sấp rồi vỗ về lưng trẻ nhằm giúp đờm nhớp không còn đọng ở cổ trẻ. Điều này giúp trẻ đỡ ho và ăn bớt nôn. Lúc bình thường, trẻ có thể ăn 6 lần/ngày (kể cả bữa bột và bữa sữa) nhưng lúc trẻ ho có thể tăng 8 - 10 lần/ngày, mỗi lần ăn một ít, đo đó có thể cách khoảng 2 giờ cho trẻ ăn một lần.

Tuyệt đối khi trẻ đang ho, khóc không được ép trẻ ăn, uống bởi việc làm này có thể dẫn đến việc trẻ hít vào phế quản thức ăn, nước uống, dẫn đến sặc, hóc dị vật và có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Theo Dân Việt

Cách phòng bệnh tay chân miệng


Bệnh TCM do virus đường ruột, lây theo đường tiêu hoá và tiếp xúc trực tiếp nhưng đến nay vẫn chưa có vaccine phòng bệnh, không có thuốc điều trị đặc hiệu. Cách tốt nhất để tránh căn bệnh này là chủ động phòng ngừa.

Vệ sinh đúng cách là biện pháp phòng chống TCM hiệu quả.

Nghỉ học không phải là cách tốt nhất

Cách phòng bệnh TCM

Nguy cơ lây nhiễm bệnh TCM có thể giảm đáng kể nếu thực hiện tốt các biện pháp sau:

Vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên, đặc biệt sau mỗi lần làm vệ sinh cho trẻ.

Ăn chín, uống sôi.

Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi của trẻ mà có thể nhiễm virus gây bệnh bằng nước và xà phòng.

Hạn chế tối đa, không cho trẻ việc tiếp xúc trực tiếp như sử dụng chung các dụng cụ với trẻ bị bệnh. Cách ly trẻ trong thời gian mắc bệnh cũng có thể làm giảm đáng kể khả năng lây nhiễm cho những trẻ khác.

Như phần đầu của chuyên đề đã đề cập, nhiều phụ huynh đã chọn biện pháp cho con nghỉ học cho... lành. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho cả phía nhà trường và cả phía phụ huynh.

TS Nguyễn Nhật Cảm, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội cho rằng, cho con nghỉ học không phải là giải pháp tốt nhất. TCM là bệnh lý lây nhiễm do virus. Nếu bệnh được phát hiện sớm có thể tự khỏi sau 5-7 ngày và chỉ cần điều trị tại nhà. Theo TS Cảm, một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 0,2 - 0,5%) trẻ bị mắc bệnh ở thể nặng. Vấn đề là cả gia đình và nhà trường phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe của trẻ để phát hiện sớm dấu hiệu của bệnh, kịp thời cách ly trẻ và khoanh vùng, xử lý ổ dịch.

Tuy nhiên, nhiều cha mẹ vẫn không yên tâm khi thấy con có biểu hiện sốt đã vội vàng đưa con tới các bệnh viện, gây tình trạng quá tải ở các bệnh viện lớn trong thời gian qua. Chính sự mất bình tĩnh này đã dẫn đến nguy cơ lây chéo bệnh TCM giữa người mắc bệnh với người chưa mắc bệnh, đặc biệt là với trẻ em.

Để giúp các bậc cha mẹ không lúng túng, TS Trần Minh Điển, Phó Giám đốc BV Nhi TƯ hướng dẫn một số cách phân biệt bệnh TCM với các bệnh lý khác.

Một số bệnh có thể có những nốt phát ban như sốt virus, dị ứng (hồng ban đa dạng, không có phỏng nước), viêm da mủ (đỏ, đau, có mủ), thủy đậu (phỏng nước, gặp ở nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.), sốt xuất huyết Dengue (chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc). Theo BS Điển, bệnh TCM cũng rất dễ nhầm lẫn với các bệnh do nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi. Để phân biệt cần lưu ý với các vết phát ban, sốt phát ban, các ban thường xen kẽ ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai, còn ban của bệnh TCM xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Đặc biệt, cha mẹ có thể nhận biết được nếu chú ý: Trẻ có nốt ở cả bụng, tay, chân... thì không phải TCM.

Để phòng bệnh, quan trọng là giữ vệ sinh sạch sẽ từ môi trường, đồ chơi, đến bàn tay trẻ và đặc biệt là bàn tay người chăm sóc trẻ. Một nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy 40% số trẻ mắc bệnh là từ bàn tay người chăm sóc không đảm bảo vệ sinh. Các bác sĩ khuyên mọi người cần chủ động tìm hiểu bệnh TCM qua các khuyến cáo của ngành y tế trên các phương tiện thông tin; khi thấy các triệu chứng giống các khuyến cáo, kịp thời đưa người bệnh đến các cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra, điều trị. Ngoài việc vệ sinh môi trường, vệ sinh nhà cửa thường xuyên, các phụ huynh cần tích cực rửa tay trước khi ăn và chăm sóc trẻ. Các cô nuôi dạy trẻ, các giáo viên cần chú trọng tới việc giữ vệ sinh cho trẻ tại trường học để ngăn chặn căn bệnh này.

Chăm sóc trẻ mắc bệnh hợp lý, đúng cách

Trong các tháng còn lại của năm nay, từ tháng 10 - 12, các chuyên gia, bác sĩ nhận định tình hình dịch TCM vẫn diễn biến phức tạp, gia tăng cả số mắc và tử vong. Do đó, khuyến cáo các chuyên gia là phụ huynh cần cẩn trọng nhưng không hoang mang, tiến hành các biện pháp phòng bệnh theo khuyến cáo của ngành y tế.

Trong trường hợp trẻ mắc bệnh TCM, không có biến chứng thì có thể chăm sóc, điều trị trẻ tại nhà bằng cách: Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước. Giảm đau, hạ sốt cho trẻ bằng thuốc paracetamol. Cho trẻ ăn thức ăn lỏng dễ tiêu và cố gắng cho trẻ ăn thành nhiều bữa. Đặc biệt, không nên cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng cho trẻ.

Với những trường hợp được chỉ định điều trị tại nhà (chỉ loét miệng, có thể kèm theo tổn thương da) thì cha mẹ cần chú ý cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ, hạ sốt cách 6 tiếng một lần, vệ sinh răng miệng. Ngoài ra cần cho bé nghỉ ngơi, tránh kích thích, trong vòng 5-10 ngày đầu của bệnh, cứ 1 - 2 ngày cần cho trẻ khám lại. Khi thấy trẻ có dấu hiệu nặng như: Sốt cao hơn 39oC, thở nhanh, khó thở, rung giật cơ, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, co giật hôn mê... cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.

Để phòng ngừa bệnh dịch có thể lây nhiễm rộng ra người xung quanh và cộng đồng, cha mẹ có trẻ bị bệnh cần lưu ý: Cách ly trẻ, cho nghỉ học tại nhà, thông báo với y tế phường, xã nơi cư trú, thông báo với trường học. Đối với các xã, phường có trẻ bị mắc TCM thì dù là một trẻ mắc thì cũng phải tiến hành xử lý môi trường, xử lý như một ổ dịch.

Nhận biết nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ


Không ít trường hợp trẻ, nhất là các bé trai bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu mà bậc cha mẹ không hề hay biết, để sớm gặp bác sĩ tìm phương hướng điều trị.

Biểu hiện của bệnh

Vì bệnh không có triệu chứng đặc hữu nên các dấu hiệu lâm sàng chỉ có giá trị gợi ý, như:

Các dấu hiệu nhiễm khuẩn: Trẻ sốt cao, rét run, toàn thân có tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đôi khi không có sốt, có thể thấy các biểu hiện như một tình trạng nhiễm khuẩn huyết: Vàng da, trẻ bị hạ thân nhiệt...

Các dấu hiệu đái ít, đái buốt, nước tiểu đục cũng có thể gặp.

Nếu trẻ bị viêm bàng quang, hay nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới có thể thấy trẻ đái rắt, đái đau, đái rặn. Nhiều trẻ la hét, sợ hãi hoảng hốt khi đái. Có thể để ý thấy bàn tay của trẻ khai do trẻ luôn nắm, hoặc nắm kéo dương vật (với bé trai). Đôi khi trẻ có thể kêu đau vùng hạ vị.
Nếu trẻ bị viêm nhiễm đường tiết niệu trên, ngoài tình trạng nhiễm khuẩn toàn thân trẻ còn có thể kêu đau vùng thượng thận.

Khi nghi ngờ trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu

Khi thấy trẻ có các biểu hiện gợi ý, nghi ngờ như trên bậc cha mẹ cần phải cho bé đến các trung tâm y tế làm xét nghiệm để chẩn đoán kịp thời bệnh.

Các bác sĩ, tuỳ từng trường hợp để làm xét nghiệm nước tiểu - có nhiều giá trị trong chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Soi tươi nước tiểu sẽ thấy bạch cầu trong nước tiểu tăng cao hơn chỉ số bình thường. Cấy nước tiểu sẽ phát hiện được vi khuẩn gây bệnh. Có thể xét nghiệm nước tiểu nhanh bằng que nhúng để thêm thông tin cho chẩn đoán bệnh.

Siêu âm, chụp X - quang có nhiều ý nghĩa trong việc chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên và cho trẻ nhỏ dưới một tuổi, hay các nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái phát.

Điều trị ra sao?

Đối với các trường hợp viêm bàng quang, hay nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới, trẻ thường được điều trị ngoại trú tại nhà bằng một trong các loại kháng sinh uống, như amoxicillin, ampixillin, cotrimoxazol theo đơn bác sĩ kê. Thời gian điều trị từ 5 - 7 ngày.

Đối với các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên, tuỳ trường hợp các bác sĩ sẽ giữ trẻ lại nằm viện để điều trị. Nếu trẻ có tình trạng toàn thân tốt bác sĩ khám có thể sẽ cho trẻ uống kháng sinh và theo dõi. Các trường hợp nặng hơn phải nằm điều trị bằng kháng sinh tiêm tĩnh mạch, hoặc phối hợp kháng sinh.

Khi phát hiện có các dị dạng, hoặc bất thường ở đường tiểu, như khít, hẹp bao qui đầu (ở bé trai)... thì cần phối hợp các biện pháp điều trị ngoại khoa. Thời gian và liệu trình điều trị phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Các thể nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

- Viêm thận, bể thận hay nhiễm khuẩn đường tiểu trên. Trong trường hợp này ngoài viêm nhiễm ở đường tiểu còn kèm theo viêm mô kẽ thận.

- Viêm bàng quang, hay nhiễm khuẩn đường tiểu dưới.
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không có triệu chứng.

Phòng bệnh cho trẻ khi giao mùa



Mỗi khi giao mùa, thời tiết thay đổi làm cho cơ thể con người nếu thích nghi không kịp sẽ có những phản ứng ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhất là trẻ em và đặc biệt là trẻ sơ sinh.

BS. Nguyễn Thị Thanh - Trưởng khoa Dịch vụ 1, BV Nhi Đồng 2 cho biết, khi thời tiết thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp tới da và đường hô hấp. Thường da của chúng ta sẽ khô ráp hơn, có khi có cảm giác bong tróc, hơi rát và có khi khô da, bong vẩy .



Đối với trẻ nhỏ, nhất là ở trẻ có cơ địa dị ứng, cha hay mẹ có tiền căn viêm mũi dị ứng, nồi mề đay hay suyễn, trẻ dễ bị khô da và nếu không kịp thời phòng ngừa, thì khô da dễ dẫn đến chàm da.





Theo BS Thanh, khi trời se lạnh hơn, không khí vào đường thở của bé không được sưởi ấm (do đường hô hấp của trẻ ngắn hơn và không có lông sưởi như ở người lớn), trẻ dễ bị nhiễm lạnh đường hô hấp , dễ bị nhiễm virus hơn, biểu hiện bằng hắt hơi sổ mũi, ho, khò khè, nặng hơn là viêm đường hô hấp dưới. Những trẻ có tiền căn dị ứng , khi bị cảm lạnh hay nhiễm siêu vi , sẽ dễ làm khởi phát cơn suyễn.



Những triệu chứng báo hiệu cơ thể có thể bị tác động của thời tiết như: hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mắt sống; Ho khan hoặc ho khò khè.; Cảm giác ớn lạnh, rùng mình, ở trẻ nhỏ da lạnh hoặc nổi bông , có thể là triệu chứng trẻ sắp sốt cao; Buồn nôn hay tiêu lỏng ,…



Cách phòng tránh



Theo BS. Nguyễn Thị Thanh, thời điểm giao mùa thường chuyển biến từ nóng sang lạnh nên trẻ dễ bị bệnh, nhất là các bệnh như viêm họng, viêm tai... Vì vậy, để phòng tránh bệnh, các bậc phụ huynh cần tăng cường ủ ấm cơ thể trẻ. Khi đi ra ngoài cần mặc quần áo dài tay, đội mũ nón... Ngoài ra, nếu thời tiết quá lạnh thì phải trang bị áo ấm, khăn quàng cổ và hạn chế đưa trẻ ra ngoài khi không cần thiết.



Ngoài ra, các bậc phụ huynh cũng có thể tăng sức đề kháng bằng nhiều biện pháp như: Cho trẻ uống thuốc bổ, vitamin cần thiết ngăn ngừa cảm cúm, tiêm phòng bệnh cúm cho trẻ, cung cấp nhiều chất kháng thể qua các loại nước ép trái cây như cam, bưởi, dưa hấu..., nấu cho trẻ ăn những món tăng cường dinh dưỡng, đảm bảo cơ thể khỏe mạnh như: các món cá, rau trái... Khi thấy những dấu hiệu bất thường như trẻ sốt, ho, sổ mũi nhiều nên đưa ngay đến phòng mạch bác sĩ để kịp thời điều trị.



Đặc biệt là các bậc phụ huynh lưu ý không nên tự chữa bệnh cho con. Khi thấy con ho, sốt, không ít người đã tự ra hiệu thuốc, mua kháng sinh về “điều trị”. Mỗi thể viêm có phác đồ điều trị riêng, có loại bệnh dùng kháng sinh này, loại dùng kháng sinh khác, cũng có loại bệnh không nên dùng kháng sinh. Thực tế, có nhiều trường hợp trẻ vào viện trong tình trạng bệnh nặng do sự thiếu hiểu biết của cha mẹ khi dùng thuốc bừa bãi. Vì thế, khi có những triệu chứng kể trên, cách tốt nhất là cho trẻ đến cơ sở y tế. Phát hiện sớm, điều trị đúng cách, trẻ sẽ mau lành bệnh và phục hồi nhanh chóng.



BS.Nguyễn Thị Thanh lưu ý, chuẩn bị bước vào năm học mới, thời tiết thất thường tháng 9, tháng 10 rất dễ ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Do đó, một vài ngày trước khi nhập học không nên cho trẻ đi chơi xa hay thức khuya, nên tập giờ giấc như đi học.



Một số bệnh thường gặp khi thời tiết thay đổi



Đau họng:



Bệnh do một loại vi khuẩn gây ra, thường xuyên và dễ gặp ở trẻ nhỏ. Thông thường, khi mắc bệnh trẻ thường bị sưng họng, ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và thậm chí bị nôn.



Cảm cúm:



Bệnh do virus gây ra và lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. Trẻ nhỏ rất dễ bị lây bệnh này khi thay đổi thời tiết, nóng chuyển sang lạnh. Các triệu chứng thường thấy ở trẻ là nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốt, đau đầu... nếu kèm theo sốt cao thì phải đưa đi khám ngay vì dễ bị biến chứng gây nguy hiểm đường hô hấp.



Viêm tắc thanh quản và khí quản:



Nếu trẻ thường ho nhiều về ban đêm, ho dữ dội thì rất có thể đã mắc bệnh viêm tắc thanh quản và khí quản. Bệnh này thường do viêm nhiễm vi-rút và dễ mắc nhiều vào thời điểm giao mùa. Trường hợp trẻ thở khò khè phát ra tiếng kêu nên đưa trẻ đi khám để có phương pháp điều trị thích hợp.



Viêm tai:



Khi bị sốt trên 39 độ C, trẻ thường bị kèm theo các bệnh về tai. Sự cố thường gặp khi viêm nhiễm tai ở trẻ nhỏ là vòi nhĩ (nối liền tai giữa với mặt sau cuống họng, có nhiệm vụ để thoát dịch) bị tắc nghẽn, dịch ứ đọng tăng áp lực lên màng nhĩ, trẻ bắt đầu cảm thấy đau. Các vòi này cũng có thể bị tổn thương, bị vỡ khi trẻ nằm bú bình và có một lượng nhỏ sữa chảy trở lại vào tai, phát sinh hiện tượng viêm nhiễm. Bởi vậy, khi trẻ bú người ta thường thấy chúng khóc là do đau tai. Ngoài ra chứng viêm nhiễm này còn làm cho trẻ gặp khó khăn khi ngủ. Trẻ đau tai khóc nhiều kèm theo sốt, cảm lạnh, đau đầu, sưng cổ nên đi khám ngay.



Theo VnMedia

Làm gì khi trẻ bị côn trùng đốt?


Khi mùa mưa đến, côn trùng, đặc biệt là muỗi sinh sôi, trở thành nỗi lo của rất nhiều bà mẹ. Những vết cắn của côn trùng tưởng như vô hại nhưng lại gây ngứa, sưng, viêm tấy và gây ra một số bệnh ngoài da, đặc biệt là đối với làn da mỏng manh của trẻ nhỏ.

Chúng ta hãy cùng nghe bác sĩ Vũ Hồng Thái – Giám đốc Bệnh viện Da Liễu tư vấn về những bệnh ngoài da có thể gặp.

Da tại vết cắn/châm đốt thông thường bị ngứa, cảm giác bỏng rát, có khi sưng lên thành những sẩn. Ở một số người nếu không được bôi thuốc đúng và kịp thời, vết cắn có thể gây nên những tác hại trên da như:

1. Nhiễm trùng thứ phát do gãi:

Khi côn trùng cắn, chúng sẽ phóng ra “nọc” độc là một vật thể lạ đối với cơ thể (yếu tố dị nguyên) xâm nhập vào máu. Cơ thể có sự đáp ứng của hệ miễn dịch – dị ứng tạo ra các histamine gây ngứa. Ngứa có khi thoáng qua nhưng ở một số người nhạy cảm sẽ bị ngứa rất nhiều. Chúng ta thường phản ứng lại bằng cách gãi, làm cho làn da bị tổn thương (trầy xước, rách da). Và nó sẽ là cửa ngõ để vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiễm khuẩn, làm cho sưng lên và có mủ.


2. Sẩn ngứa, chàm hóa

Đối với người có cơ địa dị ứng, chất tiết của côn trùng sẽ là tác nhân tạo ra đáp ứng miễn dịch. Ngứa có thể phát triển toàn thân và dẫn tới sẩn ngứa (nhiều sẩn u lên có khi thành cục kèm với ngứa tại vết cắn).

Ngứa gãi sẽ tạo thành tổn thương của bệnh chàm (chàm hóa): da tại vùng chàm có biểu hiện là những dát viêm đỏ kèm các mụn nước li ti. Ngứa nhiều, bệnh nhân gãi lâu ngày vùng da bị tổn thương dày lên, tăng sừng, xuất hiện các vết nứt, việc điều trị trở nên khó khăn.

3. Mất thẩm mỹ da

Nếu có nhiễm trùng thứ phát không điều trị, hay điều trị không đúng, các tổn thương lâu ngày trở nên chàm hóa, có khi gây ra sẹo lồi (ở những người có cơ địa sẹo lồi). Ngoài ra, còn bị các vết thâm do hiện tượng tăng sắc tố sau viêm; dày da, tăng sừng.

4. Để giảm thiểu các tác dụng có hại từ vết cắn do côn trùng và các bệnh do chúng gây ra, chúng ta cần tuân thủ các bước:

- Phòng bệnh (ngừa không để côn trùng cắn): Dọn vệ sinh sạch sẽ quanh nhà, không để nước tù đọng trong các bể chứa, lu, chai lọ. Cần mang theo các chai xịt chống, xua đuổi côn trùng; nhất là khi có trẻ em, người có tiền sử dị ứng nặng. Nếu ngủ đêm ngoài trời phải có túi ngủ, mùng.

- Điều trị (khi đã bị côn trùng cắn):

Trước tiên, chúng ta phải tránh gãi vì sẽ làm độc tố phát tán rộng, cũng như làm da bị chấn thương, trầy xước.

Trường hợp sưng đỏ và ngứa khu trú tại vết cắn của côn trùng: rửa sạch vết cắn sau đó bôi thuốc trị côn trùng cắn có tác dụng chống ngứa và kháng viêm.

Trường hợp sưng phù lan rộng kèm theo cảm giác ngứa, bỏng rát:

- Lấy ngòi độc ra nếu có. Rửa sạch vùng da bị cắn với xà bông và nước. Có thể chườm nước đá quấn trong khăn hoặc vải mỏng trong khoảng 10 phút, nghỉ 10 phút rồi lặp lại qui trình.

- Dùng thuốc thoa có tác dụng giảm ngứa, kháng viêm tại chỗ. Hiện nay, có một số loại thuốc với công thức cải tiến antedrug, ngoài hiệu quả kháng viêm, giảm ngứa, sưng tấy do côn trùng đốt còn hạn chế tác dụng phụ.

- Nếu tổn thương vẫn kéo dài nhiều ngày bạn nên đến khám tại bác sĩ Da liễu.

Trường hợp nọc độc gây ra sốc, đe dọa tính mạng: nên buộc garo vùng chi đó và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Giadinh

Giữ vệ sinh để ngăn bệnh tay chân miệng

Chỉ trong tháng 4, tại hai bệnh viện ở TP.HCM đã có sáu cháu bé tử vong do mắc bệnh tay chân miệng. Làm cách nào để phòng và phát hiện sớm bệnh này là thắc mắc của nhiều bà mẹ có con nhỏ. Bác sĩ Trương Hữu Khanh, trưởng khoa nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM, cho biết:

- Năm nay mới vào tháng 4, tháng 5 nhưng số trẻ mắc bệnh tay chân miệng đã tăng cao, trong đó có nhiều trường hợp nặng. Những năm trước phải đến tháng 9, 10 thậm chí tháng 11, 12 mới có nhiều ca bệnh.

* Nhiều bà mẹ lo sợ trước thông tin đang là đỉnh mùa dịch của bệnh tay chân miệng và đã có một số trẻ mắc bệnh tử vong. Có phải trẻ em nào mắc bệnh tay chân miệng cũng có thể trở nặng?


- Người nhà của trẻ không nên thấy có một vài ca bệnh tay chân miệng tử vong mà hoang mang vì đó chỉ là con số rất nhỏ. Thống kê cho thấy có trên 95% trẻ em mắc bệnh tay chân miệng tự hồi phục. Trong số những trẻ mắc bệnh tay chân miệng nặng chỉ có dưới 10% số ca tử vong. Điều quan trọng là người nhà cần phải theo dõi sát trẻ. Khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tham vấn.

* Làm cách nào để một bà mẹ biết con mình rơi vào trường hợp tự khỏi hoặc có diễn tiến nặng?

- Khi trẻ mắc bệnh các bà mẹ phải theo dõi xem trẻ có bị giật mình, thay đổi giấc ngủ (trẻ quấy khóc, không ngủ được hoặc ngủ li bì), tự nhiên tay chân trẻ bị yếu, trẻ bị sốt liên tục mà không hạ. Đây là những dấu hiệu ban đầu giúp các bà mẹ biết trẻ đã mắc bệnh tay chân miệng nặng và cần đưa đến các cơ sở y tế để điều trị ngay.

* Những triệu chứng của bệnh tay chân miệng?

- Đầu tiên trẻ có thể chảy nước miếng, đau, quấy khóc, sau đó sẽ xuất hiện những bóng nước ở một trong nhiều vùng như tay, chân, miệng, gối, mông, lòng bàn tay, lòng bàn chân. Đặc biệt những bóng nước này không gây đau. Thực tế cho thấy nhiều cháu bé bị nổi nhiều bóng nước ở tay, chân, miệng... lại mắc bệnh nhẹ.

Ngược lại có một số cháu chỉ bị nổi vài bóng nước trong miệng nhưng bệnh lại có diễn tiến nặng, gây tử vong. Những trường hợp mắc bệnh tay chân miệng nặng mới cần nhập viện điều trị, đa số trường hợp nhẹ được bác sĩ cho chăm sóc và theo dõi tại nhà. Không phải tất cả trẻ đến cơ sở y tế sớm đều cứu được nhưng phần lớn trẻ đến sớm sẽ có ít nguy cơ bị tử vong.

* Thời gian chữa bệnh tay chân miệng có kéo dài? Những biến chứng thường gặp khi mắc bệnh?

- Trẻ mắc bệnh tay chân miệng nhẹ sau 5-7 ngày sẽ tự hết. Còn trẻ bệnh nặng sẽ có biến chứng suy hô hấp, viêm não, phù phổi, suy tim..., tử vong. Đa số trẻ nhập viện nằm 2-3 ngày là được xuất viện, trường hợp nặng hơn nằm điều trị 4-5 ngày. Bệnh tay chân miệng do virut gây ra.

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên các bác sĩ chủ yếu điều trị để giữ cho bệnh đừng diễn tiến nặng thêm. Với những trường hợp trẻ mắc bệnh quá nặng, diễn tiến bệnh nhanh thì bác sĩ cũng không giúp được gì.

* Trẻ mắc bệnh tay chân miệng nhập viện năm nay có triệu chứng gì khác biệt so với những năm trước?

- Năm nay nhiều trẻ mắc bệnh tay chân miệng nhập viện với triệu chứng bị run chi, trẻ đi loạng choạng nhiều hơn, mắt đảo, vã mồ hôi lạnh. Những năm trước thỉnh thoảng cũng gặp những trẻ mắc bệnh có những triệu chứng này.

Để tìm nguyên nhân gây ra sự thay đổi phải làm xét nghiệm mới biết được. Đợt này Bệnh viện Nhi Đồng 1 đang hợp tác với một bệnh viện của Đài Loan để làm xét nghiệm trên những ca bệnh nặng.

* Tại sao bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi? Trong lúc mùa dịch bệnh tay chân miệng đang ở đỉnh điểm, những bà mẹ có con nhỏ cần lưu ý điều gì?

- Trẻ trên 3 tuổi ít bị mắc bệnh tay chân miệng vì trước đó những trẻ này từng mắc bệnh tay chân miệng và đã tự hết. Những trẻ này đã có kháng thể. Do vậy trong những đợt bệnh theo mùa thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi. Bệnh tay chân miệng không có thuốc điều trị đặc hiệu và văcxin ngừa bệnh nên những biện pháp phòng ngừa bệnh vẫn quan trọng nhất.

Bệnh tay chân miệng không có trung gian truyền bệnh nào mà chính do sinh hoạt của con người sẽ làm bệnh lây lan. Virut từ trẻ mắc bệnh sẽ bắn ra môi trường xung quanh, có thể dính vô đồ chơi, bàn tay người lớn, bàn tay trẻ em, sàn nhà... Do vậy, nếu không vệ sinh sàn nhà, đồ chơi, rửa sạch tay trước khi chăm sóc trẻ... sẽ lây bệnh cho trẻ.

Ngoài ra, khi trẻ mắc bệnh người nhà không cho trẻ đi nhà trẻ để tránh lây bệnh cho những trẻ cùng học. Khi đã thực hiện tốt những điều này chắc chắn virut sẽ không tấn công được.

Để trẻ không bị viêm đường hô hấp


Nhiễm khuẩn hô hấp là bệnh thường gặp nhất ở trẻ em. Phần lớn trẻ sẽ tự khỏi, nhưng khoảng ¼ trường hợp bệnh diễn tiến thành viêm phổi, thậm chí tử vong.

Dễ mắc

Đường hô hấp chính là nơi mà nhiều mầm bệnh (virus, vi khuẩn) dễ dàng xâm nhập khi trẻ hít thở. Đối với trẻ, đường thở ngắn và hẹp nên mầm bệnh dễ lây lan hơn. Đặc biệt, trẻ dưới 5 tuổi, bệnh đường hô hấp thường xuyên tấn công do hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh nên sức đề kháng và khả năng miễn dịch kém, trẻ không đủ sức chống đỡ với sự tấn công của các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài.

Ngoài ra, vì trẻ còn quá nhỏ, chưa có ý thức giữ vệ sinh, tự bảo vệ mình trước các nguy cơ lây nhiễm bệnh từ môi trường sống và người có bệnh nên càng dễ mắc bệnh.

Chớ xem thường

So với các bệnh thông thường khác, bệnh đường hô hấp như cúm có mức độ lây nhiễm cao, khó kiểm soát, có thể gây dịch nguy hiểm đến sức khỏe cộng đồng. Những dấu hiệu ban đầu của bệnh viêm nhiễm đường hô hấp chỉ là ho, có thể kèm theo sổ mũi, hắt hơi, sốt... Ở trường hợp nặng hơn, trẻ có thể biểu hiện khó thở rõ rệt hơn (thở nhanh, thở co lõm lồng ngực).

Một điều các bậc phụ huynh cần lưu ý đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi này khi mắc bệnh thì diễn biến thường nặng và khó lường... Do đó, nếu những bệnh lý này không được phát hiện, điều trị, xử trí sớm và đúng, sẽ xảy ra các biến chứng nguy hiểm như: suy hô hấp cấp, viêm phổi, viêm tai, viêm màng não, áp-xe phổi, tràn khí, tràn dịch màng phổi và có thể dẫn đến tử vong

Đúng cách

Để phòng ngừa các chứng nhiễm khuẩn hô hấp nói trên, cha mẹ cần cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tránh suy dinh dưỡng, chủng ngừa đủ, uống vitamin A.

Cần bảo vệ trẻ khi thay đổi của thời tiết, trẻ nên được mặc quần áo mát mẻ khi trời nóng và giữ ấm khi trời lạnh; không để trẻ nằm gần quạt máy, nằm phòng máy lạnh quá lâu, không cho trẻ đi chơi dưới trời mưa, trời nắng gắt hay ngoài trời quá khuya; tắm trẻ bằng nước ấm khi trời lạnh; giữ nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng;

Không cho trẻ tiếp xúc với người có bệnh, nhất là người đang bị bệnh về đường hô hấp và tránh để trẻ hít khói bếp, khói than, khói thuốc lá. Nếu trẻ bị ho, bị sổ mũi cần sớm đưa trẻ đi khám bệnh, nhất là trẻ dưới 5 tuổi, để phát hiện sớm viêm phổi cũng như các biến chứng khác…

Các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý tăng cường miễn dịch tự nhiên cho trẻ thông qua dinh dưỡng. Ngoài việc bổ sung một số chất quen thuộc như sắt, kẽm, DHA, omega 3, Betaglucan1,3/1,6 tự nhiên trong men bánh mì, một số loại nấm, hạt ngũ cốc như: yến mạch, đại mạch, thậm chí là tảo...
Đây là những chất có khả năng giúp tăng cường hàng rào miễn dịch tự nhiên ở người, tiêu diệt các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài một cách hiệu quả.

Theo Th.s-Bs Trần Anh Tuấn

Dùng thuốc gì khi trẻ viêm mũi họng cấp?

Con tôi mới được hơn 1 tuổi. Tự nhiên cháu bị sốt cao đến hơn 39 độ. Có chảy nước mũi và ngạt mũi làm cho cháu không bú được. Ăn vào cháu bị nôn.

Tôi phải dùng thuốc gì cho cháu? Nguyễn Thu Hòa (Hải Phòng)

Trả lời:

Với các biểu hiện trên rất có thể cháu bị viêm mũi họng cấp, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do virut. Ở trẻ từ 3 tháng đến 3 tuổi với các biểu hiện: sốt cao đột ngột (có thể gây co giật), kích thích, hắt hơi. Sau vài giờ, trẻ chảy nước mũi và ngạt mũi có thể làm trẻ không bú được. Ðôi khi trẻ nôn hoặc tiêu chảy. Giai đoạn sốt kéo dài từ vài giờ đến 3 ngày. Nếu trẻ sốt trở lại thường là do biến chứng viêm tai giữa (đây là biến chứng phổ biến nhất). Ngoài ra có thể có các biến chứng như viêm hạch cổ (đôi khi có mủ), viêm xương chũm, viêm mô mềm quanh amiđan...

Khi trẻ viêm mũi họng cấp do virut thì không cần thiết phải dùng kháng sinh. Có thể dùng paracetamol để hạ sốt cho trẻ. Nên chọn dạng dùng thích hợp cho trẻ em và cần dùng đúng liều lượng. Sau 4 - 6 tiếng mới dùng lặp lại (nếu trẻ còn sốt). Paracetamol không những chỉ giảm sốt mà còn có tác dụng giảm đau nhức, mệt mỏi cho trẻ.

Tắc mũi làm trẻ không bú, không ngủ được, có thể nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý. Trẻ lớn hơn, có thể nhỏ mũi bằng dung dịch phenylephrine 1 - 2 giọt/mỗi lỗ mũi. Không nên dùng kéo dài quá 5 ngày. Ngoài ra nên cho trẻ uống nhiều nước.

Trường hợp trẻ sốt kéo dài hoặc uống thuốc hạ sốt mà nhiệt độ không giảm cần cho trẻ đến cơ sở y tế vì rất có thể trẻ có những biến chứng do viêm mũi họng cấp gây ra.
Theo SKĐS

Chăm sóc khi con bị viêm họng cấp


Viêm họng cấp là loại bệnh chiếm tỷ lệ hàng đầu tại các phòng khám nhi khoa. Khi trẻ bị viêm họng cấp, cha mẹ cần biết cách chăm sóc để tránh bị biến chứng ảnh hưởng đến các bộ phận cơ thể khác.

Cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian, không được tự ý mua thuốc kháng sinh để tự điều trị.

Nhận biết viêm họng cấp

Về triệu chứng, viêm họng cấp thường khởi phát đột ngột, sốt cao 39 – 40°C, kèm theo nuốt đau, rát họng, khàn tiếng có thể kèm theo các triệu chứng khác như: Chảy nước mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, trẻ mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn. Đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ, hạch góc hàm sưng, đau…

Với bé còn bú mẹ, viêm họng thường kèm theo bú ít hoặc bỏ bú, khó chịu và quấy khóc.
Với trẻ lớn hơn thường kêu đau vùng họng, chán ăn nên dễ làm cho cha mẹ nhầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu khó chịu khi bé mọc răng…

Biến chứng và cách điều trị

Bệnh thường kéo dài từ 7 – 10 ngày là khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn dễ gây nên các biến chứng, nhất là vào tuần thứ hai, thứ ba như: thấp khớp, thấp tim, viêm cầu thận cấp, bệnh viêm tấy quanh amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản,…

Ở trẻ em, khi bị viêm họng cấp, ngoài những biến chứng kể trên, nguy hiểm nhất có thể gây bệnh thấp tim, thấp khớp và viêm cầu thận ở trẻ em, do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A, từ viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các chất kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp và cầu thận. Khi bị biến chứng viêm họng do liên cầu khuẩn, trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, và chạy từ khớp này sang khớp khác. Sưng khớp và khớp di chuyển là một yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim. Và một biến chứng phổ biến nhất là chuyển từ viêm họng cấp tính trở thành viêm họng mãn tính, đây là cơ hội để bệnh tái đi tái lại nhiều lần.

Về điều trị, với em bé dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38°C thì nên cần nhanh chóng được khám, tránh tự ý điều trị, vì trẻ em sốt cao rất dễ đưa đến co giật. Cần cho bé uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian, không được tự ý mua thuốc kháng sinh để điều trị vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng kháng thuốc, làm cho điều trị sau này gặp nhiều khó khăn.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Giúp bé vệ sinh họng, răng, miệng hàng ngày như: đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng.

Tránh cho trẻ uống nước quá lạnh hoặc quá nóng.

Với phòng ngủ, cần thoáng mát, nếu có điều hòa nhiệt độ cần giữ ở mức khoảng 24 – 26°C. Nếu sử dụng quạt, nên cho trẻ nằm quạt tốc độ lớn trong thời gian ngắn giúp trẻ dễ ngủ, sau đó giảm dần cường độ, quạt phải luôn được quay thay đổi hướng gió.

Tập cho trẻ thói quen uống nhiều nước, tốt nhất là nước đun sôi để nguội, đánh răng sau mỗi bữa ăn, tập thể dục.

Tập thói quen rửa tay trước khi ăn và rửa tay sau khi đi vệ sinh.

Với trẻ nhỏ, nhất là trẻ nhỏ còn bú mẹ, cần thực hiện tốt chế độ nuôi dưỡng tốt, dinh dưỡng cân bằng, đủ dưỡng chất, uống vitamin A đầy đủ theo hướng dẫn, tắm nắng chống còi xương, suy dinh dưỡng.

Luôn giữ cho trẻ ấm áp, tránh gió lùa, tránh tập trung nơi đông người, tránh nơi môi trường bị ô nhiễm, đeo khẩu trang cho trẻ khi ra đường để tránh khói bụi.

Cho bé uống thuốc đúng cách

Đa số các bậc cha mẹ đều cảm thấy rất khó khăn và vất vả khi cho con nhỏ uống thuốc. Vài bí quyết nhỏ dưới đây có thể giúp bạn làm việc này đơn giản hơn:

- Bạn nên cho bé uống thuốc cách xa bữa ăn nếu không muốn bé nôn sẽ ra hết cả phần thức ăn đó.

- Chỉ cho bé uống thuốc khi thật sự cần thiết.

- Báo với bác sĩ “khẩu vị” của bé (thích chua, ngọt, mùi dâu, táo…) để họ có thể cho bé những loại thuốc có mùi vị mà bé thích.

- Cho bé uống thuốc từ từ, từng chút một. Nếu bé nôn ra thì cho uống lại liền sau đó. Đối với những bé còn ẵm ngửa thì cha mẹ nên cho uống thuốc bằng xilanh, bơm từng chút một để bé nuốt dần. Khi bé lớn hơn, có thể dụ bé bằng cách đút một muỗng thuốc kèm theo sau muỗng thức ăn mà bé thích.

- Có bé rất thích bắt trước người lớn nên cha mẹ nên làm ra vẻ cùng uống thuốc với trẻ.

- Hoan hô, tán thưởng bé sau mỗi muỗng thuốc uống vào thành công.

- Không pha thuốc vào sữa, vào thức ăn để lừa bé. Tránh trường hợp bé sợ thuốc, sợ luôn thức ăn và sữa.

- Những bé còn quá nhỏ chỉ có thể uống các loại thuốc ở dạng bột, siro hoặc viên sủi. Do đó cha mẹ nên tán nhuyễn thuốc trước khi cho bé uống, nếu không trẻ dễ bị sặc.
- Với những bé khó nạp thuốc bằng đường uống (trẻ luôn nôn ra với bất kỳ loại thuốc nào) thì cha mẹ nên cho bác sĩ biết để tìm giải pháp khác như nhét vào hậu môn hoặc thuốc tiêm.

Theo Cẩm nang mua sắm

Những cơn ho báo bệnh


Với những bé còn quá nhỏ, bé chưa thể nói cho bạn biết những khó chịu khi bị ho. Vì thế, việc theo dõi sức khỏe bé khi bé ho là điều cần thiết.

- Bệnh về thanh quản thường thấy ở bé dưới 2 tuổi, triệu chứng ban đầu là sốt và khàn giọng. Cơn ho cũng tồi tệ hơn vào ban đêm.

- Viêm tiểu phế quản có xu hướng ảnh hưởng mạnh tới bé dưới 6 tháng tuổi (có thể lên tới 1 tuổi). Dấu hiệu ban đầu như cảm lạnh, tiến tới là ho, thở nhanh, khó ăn trong 2-3 ngày.

- Nhiễm trùng ngực ảnh hưởng tới các bé mọi lứa tuổi. Triệu chứng gồm sốt cao, lười ăn, thở gấp và ho.

- Những bé lớn than phiền do bị đau đầu có thể bởi viêm xoang. Bé có thể ho vào ban đêm do chất nhầy chảy xuống cổ họng.

- Hen suyễn phổ biến với những bé mà gia đình có tiền sử bệnh này. Nó không gây sốt cao, trừ khi có nhiễm trùng ở ngực. Triệu chứng gồm ho vào ban đêm, thở khò khè nhất là sau khi tập thể dục, vui chơi quá mệt... Trường hợp nặng, bé thở nhanh, lồng ngực co rút.

- Ho gà bắt đầu với dấu hiệu số mũi, ho khan. Cơn ho kéo dài hàng tháng và có thể xảy ra với bé đã được tiêm chủng.

Giadinh

Ứng phó khi bé bị cảm lạnh

Bé bị chảy nước mũi hoặc ho không ngừng là triệu chứng do cơ thể bé đã nhiễm lạnh.

Cảm lạnh là bệnh khá phổ biến ở trẻ sơ sinh, nhất là trong thời tiết giao mùa như hiện nay. Trẻ có thể mắc bệnh trong một vài tuần khá dai dẳng với các triệu chứng ho, sổ mũi, viêm họng.

Nguyên nhân thường gặp

Cảm lạnh là bệnh nhiễm trùng do virus gây ra. Khi trẻ nhiễm virus, nếu cơ thể không có khả năng miễn dịch chống lại nó thì bé sẽ bị nhiễm lạnh.

Một số nguyên nhân phổ biến khiến trẻ mắc cảm lạnh:

- Trẻ bị nhiễm cảm lạnh do tiếp xúc trực tiếp với một người đã bị nhiễm.

- Các virus có thể lây lan khi một người mắc bệnh chạm vào miệng hoặc mũi của mình sau đó chạm vào trẻ mà không rửa tay.

- Bé cũng có thể nhiễm cảm lạnh do tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm như đồ chơi, đồ dùng, quần áo,...

- Dị ứng và hút thuốc thụ động cũng có thể làm trẻ bị ảnh hưởng.

- Thời tiết lạnh làm trẻ nhiễm lạnh do không khí thường khô và trẻ ở ngoài trời lâu, nhiều gió rất dễ bị cảm lạnh.
Các triệu chứng:

Đây là một số triệu chứng phổ biến khi bé mắc cảm lạnh:

- Các dấu hiệu đầu tiên của cảm lạnh thường là chảy nước mũi, hắt hơi và ho.

- Sốt do nhiễm trùng.

- Nghẹt mũi có thể dẫn đến khó thở.

- Cơ thể bé mệt mỏi, dễ cáu kỉnh, khó chịu và hôn mê.
Các biến chứng:

Cảm lạnh có thể dẫn đến một vài biến chứng cho trẻ. Mặc dù biến chứng này không phải phổ biến, nhưng cha mẹ cần luôn cảnh giác. Một trong những biến chứng phổ biến có thể xuất hiện ngay sau khi trẻ bị cảm lạnh là:

- Nguy cơ nhiễm trùng tai.

- Thở khò khè ngay cả khi con của bạn không có bệnh hen suyễn hoặc bệnh đường hô hấp khác.

- Viêm và nhiễm trùng xoang là những vấn đề liên quan.

- Các biến chứng nghiêm trọng từ cảm lạnh thông thường bao gồm viêm phổi, viêm tiểu phế quản, viêm thanh quản và viêm họng liên cầu khuẩn.

Biện pháp phòng ngừa:

Cách tốt nhất để chống lạnh là phòng ngừa với các biện pháp sau:

- Để trẻ không bị lây nhiễm bằng cách tránh tiếp xúc những người bị nhiễm lạnh.

- Luôn luôn giữ cho trẻ ấm áp và tránh tiếp xúc đối với trời lạnh bên ngoài.

- Nếu trẻ có dấu hiệu cảm lạnh, cho trẻ uống nhiều nước để giảm bớt tắc nghẽn thải độc tố khỏi cơ thể. Sử dụng nước muối sinh lý để giảm ngạt mũi của bé.

- Luôn luôn rửa tay trước khi cho trẻ ăn hoặc chăm sóc trẻ.

- Giữ đồ chơi và núm vú của trẻ sạch sẽ.
Biện pháp khắc phục:

Thuốc kháng sinh không đặc trị cho cảm lạnh. Cách tốt nhất bạn có thể giúp giảm bớt sự khó chịu của trẻ là giữ cho trẻ ấm nhất có thể và tham vấn bác sĩ.

Không bao giờ được dùng aspirin cho trẻ sơ sinh vì nó có thể gây ra các biến chứng khác. Hạ sốt cho trẻ bằng các biện pháp hạ nhiệt thông thường bằng khăn ấm.

Theo BC/Afamily

Ho do thời tiết



Bác sĩ Hoàng Minh Thu, Trưởng khoa khám Nhi, Bệnh viện Xanh Pôn (Hà Nội) cho biết, thời tiết giao mùa như hiện nay khiến trẻ dễ bị ho kéo dài dù không bị viêm nhiễm gì.
Không nên tự kê kháng sinh

Bé Nguyễn Trần Hải, 4 tuổi, được mẹ đưa đến Bệnh viện Xanh Pôn khám do bị ho hơn một tuần không khỏi. Trước đó, bé Hải đã được mẹ cho đi khám tại phòng khám ở địa phương nhưng bác sĩ cho biết bé không bị viêm nhiễm gì nên kê một số thuốc dị ứng, thuốc bổ.

Sau khi đọc hướng dẫn sử dụng các loại thuốc bác sĩ kê, mẹ bé Hải quyết không cho con uống và cho con lên tuyến trên khám vì nghĩ rằng bác sĩ kê không chuẩn. Tại Bệnh viện Xanh Pôn, bé Hải cũng được bác sĩ kết luận là không bị viêm đường hô hấp, mà ho là do bị kích ứng thời tiết.

BS Hoàng Minh Thu cho biết, nhiều bậc cha mẹ đã tỏ ra lo lắng giống như mẹ bé Hải khi thấy con ho kéo dài không khỏi. Có nhiều người còn tự ý ra hiệu thuốc mua thuốc kháng sinh cho con uống dù trẻ chẳng bị viêm nhiễm gì. Điều này rất nguy hiểm cho trẻ.

Bác sĩ Cấn Phú Nhuận, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhi TƯ cũng cho biết, có rất nhiều trẻ bị ho kéo dài nhưng khi xét nghiệm thì không mắc bệnh gì. Nguyên nhân là do thời tiết thay đổi liên tục, ảnh hưởng đến sức khỏe. Những bé dưới 3 tuổi, hệ hô hấp còn yếu ớt, sức đề kháng cũng kém là đối tượng dễ phản ứng với điều kiện thời tiết, biểu hiện bằng ho.

Trẻ bị ho dị ứng thường ho thành cơn, nhất là trước khi đi ngủ, sau khi ngủ dậy, hay lúc chuyển tư thế. Ho do viêm nhiễm thường là trẻ hay sốt, có thể có đờm đục, đờm xanh. Trẻ ho do kích ứng thời tiết thường có rất nhiều đờm nhưng là đờm trong, không sốt, khi xét nghiệm thì bạch cầu không tăng. Ho dị ứng tuy không nguy hiểm nhưng nếu không biết chăm sóc đúng cách, có thể bị bội nhiễm, dẫn đến viêm phế quản, viêm phổi...

Cách làm dịu cơn ho

“Do đường hô hấp của trẻ rất nhạy cảm với thời tiết, cộng thêm khả năng miễn dịch còn kém nên trẻ rất dễ bị bệnh khi thời tiết giao mùa.

Một nguyên nhân nữa là do tốc độ đô thị hóa, khói bụi nhiều, bầu không khí bị ô nhiễm cũng khiến trẻ dễ mắc bệnh liên quan đến đường hô hấp”, bác sĩ Cấn Phú Nhuận cho biết.
Bác sĩ Vũ Thị Việt, Khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi TƯ cho biết, những trường hợp ho do dị ứng thời tiết cần được điều trị bằng thuốc dị ứng.

Ngoài ra, vì trẻ thường nhiều đờm, nên cần làm cho các bé sổ được đờm ra, có thể bằng siro ho long đờm hay vỗ rung bằng cách: Người lớn khum bàn tay lại rồi vỗ đều vào vùng lưng bé, phần giữa hai bả vai, làm nhịp nhàng liên tục.

Sau động tác này, trẻ có thể sẽ ho nhiều và nôn, khạc ra đờm nên cần làm lúc trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng ngủ dậy, khi bé chưa ăn gì. Với những trẻ không tự khạc được đờm, mẹ có thể kích thích cho bé nôn, có thể bằng cách dùng khăn mỏng sạch lau nhẹ nhàng khoang miệng, lưỡi, kích thích nhẹ vào họng...

Các bác sĩ cũng lưu ý, khi thấy trẻ bị viêm mũi họng dị ứng, hắt hơi nhiều, có mủ đặc có thể xông họng để làm sạch đường thở, giảm bớt chất nhầy tồn đọng, hỗ trợ điều trị bệnh. Tuy nhiên, không được lạm dụng, tránh gây hỏng niêm mạc vùng mũi họng của trẻ vì bộ phận này chưa phát triển hoàn thiện.

Để phòng bệnh, theo bác sĩ Hoàng Minh Thu, cha mẹ nên chăm sóc mũi họng thường xuyên cho trẻ bằng nước muối sinh lý vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Tránh đưa trẻ đến chỗ đông người, khi ra ngoài đường cần đeo khẩu trang.

Ngoài ra, do thời tiết hanh khô nên cần cho trẻ uống nhiều nước và ăn uống đủ chất. Khi bé bị ho mà không kèm các dấu hiệu sốt, mệt mỏi, có thể cho trẻ uống thuốc ho long đờm. Nếu sau 3 ngày trẻ vẫn không đỡ ho, phụ huynh cần cho con đi khám để được bác sĩ chẩn đoán đúng bệnh và cho thuốc phù hợp, không nên tự ý mua thuốc điều trị.

Mai Thúy

Mẹ căng thẳng làm bệnh hen của con thêm nặng

Người mẹ trong tâm trạng bực bội và bị kích thích hay những người đang cố gắng kiềm chế cảm xúc có thể làm bệnh hen của con thêm tồi tệ, đặc biệt là khi trẻ còn nhỏ.

Một nghiên cứu kéo dài 1 năm ở 223 bà mẹ cho thấy những ảnh hưởng của stress, các kiểu phản ứng của họ lên con cái đang bị hen suyễn (trong độ tuổi 2-12).

Trẻ thường đoán được ý của người mẹ là từ chối, chế ngự, bảo vệ hay nuông chiều qua lời nói, thái độ và từ đó điều chỉnh hành vi và cảm xúc của chính mình.

Với trẻ trên 7 tuổi, bệnh hen sẽ dễ tái phát hơn nếu mẹ che chở, bảo vệ trẻ quá mức. Nhưng với những trẻ nhỏ tuổi hơn thì mức độ bệnh sẽ nặng hơn sau vài năm nếu mẹ bị chứng giận dữ, cáu kỉnh hay phải kìm chế cảm xúc.

Jun Nagano, Viện Khoa học sức khỏe ĐH Kyushu (Nhật Bản), cho biết: “Căng thẳng hay hạnh phúc đều có thể truyền đạt tới trẻ những thông điệp bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ. Và tình trạng hen của trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi con đường tâm sinh lý, ví như hoạt động của hệ miễn dịch với chất gây dị ứng hoặc dễ bị tổn thương khi hệ hô hấp viêm nhiễm”.

Kết quả này cho thấy các bà mẹ có con nhỏ nên chú ý nhiều hơn tới việc giảm stress.

Các bà mẹ có con lớn hơn cần được khích lệ để tăng cường các cảm xúc tốt, tránh các hoạt động chỉ đạo và bảo vệ trẻ quá mức, dấn tới sự can thiệp quá nhiều đối với trẻ.

Hen suyễn là bệnh ảnh hưởng tới hệ hô hấp. Khi bị kích thích, khí quản sẽ bị chít hẹp và gây ra khó thở.

Nghiên cứu của GS Nagano được đăng tải trên tạp chí BioMed Central (ấn bản mở rộng của tạp chí BioPsychoSocial Medicine).

Táo bón ở trẻ em, dấu hiệu bệnh gì?

Con tôi 2 tuổi, khoảng hơn một tháng nay cháu bị táo bón, thường 3-4 ngày cháu mới đi ngoài một lần, phân rắn như đất.

Mỗi lần cháu đi ngoài tôi phải dùng ống bơm vào hậu môn mới đi được. Mong bác sĩ hướng dẫn cách chữa bệnh này?

Trần Thị Vui (Thanh Hóa)

Trả lời:

Táo bón là tình trạng khoảng cách giữa hai lần đi ngoài quá lâu, phân rắn, khó bài xuất phân. Bình thường khoảng cách giữa hai lần đi ngoài tùy theo lứa tuổi, chẳng hạn trẻ 1- 6 tháng tuổi đi ngoài 2- 3 lần/ngày, trẻ hơn 2 tuổi đi ngoài 1-2 lần/ngày, trẻ lớn thì 1 lần/ngày như người lớn. Nếu khoảng cách giữa 2 lần đi ngoài dài hơn bình thường trên 3 ngày là biểu hiện của bệnh táo bón.

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh táo bón như: rối loạn tiêu hóa, tắc nghẽn ruột, do nội tiết, rối loạn chuyển hóa, do yếu tố thần kinh. Bạn nên đưa cháu đi khám bệnh để được bác sĩ định bệnh và chỉ định điều trị đúng.

Để phòng bệnh bạn nên cho cháu ăn nhiều rau, hoa quả, khoai lang, đậu và phải chú ý cho cháu uống nhiều nước. Hằng ngày, bạn phải nhắc nhở cháu đi ngoài vào một giờ nhất định, tốt nhất là buổi sáng.

Theo BS. Bùi Thị Thu Hương - SKĐS

5 lưu ý khi cho trẻ đi khám


Nhiều gia đình không có thói quen lưu lại sổ khám bệnh của trẻ hoặc không mang theo trong những lần khám tiếp theo. Đó là một sai lầm

1. Hãy lấy hẹn trước, nếu nơi bạn khám bệnh có tổ chức việc này. Việc khám bệnh theo hẹn sẽ tránh được chuyện cả trăm con người chen chúc, lay lắt nằm ngồi chờ đến lượt mình. Bạn không phải chầu chực lâu, và giảm được áp lực của đám đông lên người thầy thuốc.

2. Nếu không thật cần kíp, hãy đi khám vào buổi chiều. Một thói quen khá lạ của người Việt Nam là thích đi khám vào buổi sáng, trong khi các phòng khám lại thường vắng hoe từ sau giờ nghỉ trưa đến cuối giờ chiều. Thật vậy, nếu không vì một vài xét nghiệm cần thiết phải làm sau một đêm nhịn đói, bạn hoàn toàn có thể đến bệnh viện vào buổi chiều. Vừa đỡ mất công chờ đợi, vừa an tâm hơn nếu thầy thuốc có thể dành nhiều thời gian hơn cho bạn.

3. Tránh đi khám bệnh vào các buổi sáng đầu tuần hay cuối tuần. Tin tôi đi, mọi thứ hai đầu tuần là cơn ác mộng của tất cả các thầy thuốc. Rồi không hẹn mà gặp, dường như mọi bệnh nhân đều đổ xô về bệnh viện trong ngày cuối tuần, kể cả những người bệnh triền miên như cao huyết áp, tiểu đường… Đã phải giải quyết những tồn đọng sau 2 ngày cuối tuần, hệ thống y tế lại càng quá tải với một làn sóng bệnh nhân vào ngày đầu tuần.

Cũng vì vậy, nên tránh ngày cuối tuần. Nhiều bệnh viện chỉ làm nửa ngày thứ 7, không đủ thời gian khảo sát cho thấu đáo là đương nhiên. Nhân viên nghỉ bù, ra trực, vô trực…, thiếu hụt nhân lực, chậm trễ là điều khó tránh. Đã có nhiều thống kê cho thấy tỉ lệ sai sót, và ngay cả tử vong tăng lên đáng kể trong các bệnh viện ở Mỹ vào ngày cuối tuần.

4. Hãy chuẩn bị hồ sơ của mình. Rất nhiều lần, tôi đã toát mồ hôi hột khi phải loay hoay lật từng trang xét nghiệm, bệnh án nhàu nát, thậm chí hôi hám, đầy kiến và mối mọt, mà bệnh nhân mang lại. Thật tệ, những người này không hề ý thức được, chuẩn bị hồ sơ cũ của mình cho tử tế, ngăn nắp, sạch sẽ… cũng là một cách tiết kiệm khá nhiều thời gian cho thầy thuốc. Và chắc chắn, một hồ sơ bệnh sử thông suốt, chu đáo sẽ dẫn đến nhiều thành công hơn cho cuộc khám bệnh hiện tại, chắc chắn là thế.
Nhưng mà có hồ sơ cũ, dù nhếch nhác bẩn thỉu cũng là đỡ. Khá nhiều gia đình, không hiểu do đâu, đi khám bệnh về là vứt ngay hồ sơ vào sọt rác. Hoặc không thèm mang theo trong những lần khám bệnh kế tiếp, “Có gì bác sĩ cứ cho làm lại từ đầu cho cháu, tôi không ngại tốn kém!”. Đây không phải là vấn đề tốn kém, mà người thầy thuốc cần nắm được diễn tiến của bệnh trong quá khứ, qua những bằng chứng giấy trắng mực đen. Với lại, dù có làm lại từ đầu, rất mất thời gian để xác định lại những chẩn đoán đã được có trong những lần khám trước.

Hồ sơ bệnh án cũ là cực kỳ quan trọng, xin hay giữ nó như một bản CV, hay lý lịch sức khỏe của mình.

5. Hãy hòa nhã, lịch sự và tôn trọng những người cùng đi khám, cũng như với nhân viên y tế. Rất đơn giản, xin đừng hút thuốc, nói chuyện lớn tiếng, khạc nhổ, mở chuông điện thoại… nơi công cộng. Không cần áo đầm veston dạ hội, nhưng cũng xin đừng mặc áo ngủ quần đùi đi khám bệnh. Cũng chẳng cần trang điểm đậm như sắp đi chụp ảnh thời trang. Ví dụ nhé: đánh son môi, sơn móng tay chẳng hạn, đã che mắt thầy thuốc về triệu chứng thiếu máu hay tím tái, nếu có.

Bác sỹ Lê Đình Phương - Theo Lửa ấm

Chăm sóc trẻ bị ho cảm tại nhà

Trẻ em rất dễ bị viêm dường hô hấp, đặc biệt khi thời tiết thay đổi. Trong đó, đa số trường hợp là bệnh nhẹ với các triệu chứng ho, hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi.

Thông thường, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 7 ngày nếu được chăm sóc đúng cách.

Nhận biết trẻ ho cảm thông thường

Để biết chắc con mình chỉ bị ho cảm thông thường, phụ huynh cần thực hiện các bước sau:

Kiểm tra 4 dấu hiệu nguy hiểm:

- Không uống được hoặc bỏ bú: nghĩa là khi đút từng thìa (muỗng cà phê) nước hay sữa cho trẻ uống nhưng trẻ không nuốt được, hoặc trẻ không thể tự mút khi đưa vú mẹ vào miệng trẻ.

- Nôn tất cả mọi thứ: khi đút từng thìa nước hoặc sữa, trẻ uống được nhưng ngay lập tức trẻ nôn ra ngay. Cho trẻ ngưng vài phút, lặp lại như trên nếu trẻ vẫn ói ngay nghĩa là trẻ có dấu hiệu “nôn tất cả mọi thứ”.

- Co giật: trong cơn co giật, mắt trẻ thường “đứng tròng” hoặc “giật giật”, các cơ vùng mặt cũng co giật theo, hai tay, hai chân co quắp lại. Lưu ý, trẻ có thể sốt cao hoặc không sốt.

- Li bì: trẻ ngủ nhiều hơn bình thường và khó lay gọi, hoặc khi lay gọi trẻ mở mắt nhưng sau đó lại thiếp đi.

Kiểm tra các dấu hiệu nặng

- Thở nhanh: đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên trong một phút. Nếu nhịp thở từ 60 lần trở lên (đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi), 50 lần (đối với trẻ từ 2 – 12 tháng tuổi) và 40 lần (đối với trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi) thì trẻ đó thở nhanh.

- Thở co lõm ngực: quan sát lồng ngực khi trẻ nằm yên. Bình thường khi hít vào, lồng ngực hai bên nở ra. Nếu khi hít vào, hai bên lồng ngực lõm vào, trẻ bị thở co lõm ngực.

- Thở rít: phụ huynh để tai ở vùng mũi miệng trẻ, mắt quan sát vùng ngực - bụng. Bình thường khi trẻ hít vào, tai ta nghe được tiếng thở của bé có âm sắc nhẹ nhàng. Nếu tai ta nghe một âm sắc thô ráp khi trẻ hít vào, trẻ có dấu hiệu thở rít.

Trẻ bị ho cảm thông thường là trẻ chỉ ho, sổ mũi và không có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm và dấu hiệu nặng nào ở trên.

Hướng dẫn cách chăm sóc

Nếu trẻ bị ho cảm thông thường nên được chăm sóc đúng cách như sau:

- Tiếp tục cho trẻ ăn, bú: khi bị bệnh trẻ thường biếng ăn, biếng bú. Phụ huynh nên khuyến khích và cho trẻ ăn, bú nhiều lần trong ngày. Nếu trẻ bị nghẹt mũi, cần làm thông thoáng mũi trước khi cho bú.

- Cho trẻ uống đủ nước. Nếu trẻ ho nhiều, có thể cho trẻ uống thuốc ho an toàn như: tắc chưng đường, mật ong, tần dày lá hoặc các loại thuốc ho có nguồn gốc thảo dược. Nếu trẻ bị nghẹt mũi, làm thông thoáng mũi:

- Trẻ lớn: hướng dẫn trẻ hỉ mũi đúng cách. Hỉ mũi từng bên. Dùng ngón tay đè một bên mũi, hỉ mạnh bên kia và làm ngược lại. Lưu ý: không được bịt hai mũi cùng một lúc.

- Trẻ nhỏ: phụ huynh dùng giấy mềm xếp góc nhọn (bấc sâu kèn), đưa vừa đủ vào mũi trẻ. Làm vài lần đến khi sạch nước mũi. Trong trường hợp nước mũi đặc gây nghẹt mũi nhiều, phụ huynh nên dùng dung dịch natriclorua 0,9% nhỏ 2 - 3 giọt mỗi bên mũi, sau đó dùng giấy mềm làm sạch mũi như trên.

Theo dõi để phát hiện các dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện khám ngay như: không uống được hoặc bỏ bú, thở mệt, sốt cao.

Những điều không nên làm

- Tự ý dùng các loại thuốc nhỏ mũi có chất co mạch vì có thể gây ngộ độc cho trẻ - rất nguy hiểm.

- Dùng miệng để hút mũi trẻ vì có thể lây bệnh truyền nhiễm.

- Dùng tăm bông để ngoáy mũi vì có thể làm tổn thương mũi trẻ.

Theo BS. Ngọc Lan- giadinh

Nhiều trẻ nhập viện vì sáng lạnh trưa nóng

Trẻ sơ sinh khi mắc bệnh thường dễ diễn biến xấu nhanh, khó lường trước được. Ảnh: P.N.

Mấy ngày gần đây, số trẻ đến Khoa nhi Bệnh viện Bạch Mai khám vì ho, sốt đã tăng lên khoảng 30% so với trước. Trong đó, một số trẻ bị nặng, nhập viện trong tình trạng khó thở, suy hô hấp, viêm phổi.

Theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, số trẻ đến khám dịch vụ ngoài giờ cũng tăng mạnh, lên đến 60 trẻ vào mỗi tối, đặc biệt vào thứ 7 và chủ nhật thì thậm chí có thể lên đến 100 bé. Trẻ đến khám chủ yếu do sốt virus và nhiễm trùng đường hô hấp.

Nguyên nhân khiến số trẻ mắc bệnh tăng là do thời tiết đang chuyển mùa từ hè sang thu, những cơn mưa bất chợt, nhiệt độ thay đổi trong ngày, trưa nóng, tối và gần sáng lại se lạnh. Trẻ chưa thích nghi kịp với sự thay đổi này nên dễ mắc bệnh. Đặc biệt là nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi, dễ bị biến chứng, bệnh diễn biến xấu nhanh, khó lường trước.

Bên cạnh đó, việc phát hiện bệnh ở trẻ sơ sinh là rất khó, nếu không để ý người lớn dễ bỏ qua. Một số cha mẹ thường chỉ nghĩ con bị bệnh khi có dấu hiệu sốt và ho. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với trẻ lớn còn với trẻ dưới 6 tháng tuổi thì đây là những dấu hiệu không quan trọng. Có những trẻ không bị sốt hay ho nhiều nhưng đã bị biến chứng viêm phổi rất nặng, tiến sĩ Dũng cho biết.

Vì thế, theo bác sĩ, với nhóm trẻ này có 3 dấu hiệu quan trọng cha mẹ cần chú ý là: việc bú, ngủ và cách thở của trẻ. Nếu thấy bé bú ít hơn ngày thường, khóc khi bú hoặc quan sát thấy trẻ thở nhanh, ngực lõm hơn bình thường, đầu gật gù hoặc nhìn thấy rõ hai cánh mũi phập phồng thì cha mẹ cần đưa con đi khám sớm vì có thể bệnh đã diễn biến nặng. Ngay cả khi trẻ ngủ nhiều hơn bình thường thì cũng có thể do trẻ bị bệnh.

Thời tiết thay đổi cũng khiến số người già nhập viện tăng mạnh. Trung bình một ngày Bệnh viện Lão khoa trung ương tiếp nhận khoảng 200 bệnh nhân đến khám, trong khi trước đây chỉ khoảng 150 người. Phần lớn là do các bệnh về đường hô hấp và tim mạch như bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, hen, tăng huyết áp ...

Khoa hô hấp nhi, Bệnh viện Xanh Pon cũng ghi nhận số trẻ đến khám tăng mạnh.

Bác sĩ Vũ Thị Thúy Lan, Trưởng khoa cho biết, thời tiết thay đổi khiến nhiều trẻ bị hen nhập viện. Nếu như những tháng nghỉ hè, một ngày chỉ có khoảng 20 cháu đến khám và nhập viện thì nay một ngày có đến 80 trẻ.

"Phần lớn là sốt virus trên bệnh nhân hen, với biểu hiện sốt và ho nhiều. Sốt virus không nguy hiểm, bệnh tự khỏi nhưng với trẻ sơ sinh bị lây bệnh từ trẻ lớn thường là những trường hợp nặng", bác sĩ Lan cho biết.

Cũng theo bác sĩ, thời gian này trẻ bắt đầu nhập học nên khả năng bị lây bệnh là rất cao. Vì thế, cha mẹ cần chú ý đến việc ăn uống nâng cao sức đề kháng cho con, cảnh giác khi trẻ sốt cao vì đó có thể là sốt dịch nhưng cũng có thể là dấu hiệu của các bệnh khác nguy hiểm hơn như sốt xuất huyết.

Điều cha mẹ cần đặt biệt lưu ý là khi con bị sốt dịch cần tránh dùng thuốc kháng sinh vì không có tác dụng mà lại lại người. Trẻ có thể bị sốt đến 5 ngày liền nên nếu uống thuốc kháng sinh liên tục càng khiến trẻ mệt hơn, bệnh lâu khỏi. Điều quan trọng là dùng thuốc hạ sốt để tránh trẻ bị sốt cao dẫn đến co giật và bổ sung thêm nước.

Theo các bác sĩ, thời tiết thay đổi trong này nên cha mẹ cần chú ý giữ ấm cho con, gần sáng và đêm thì nên mặc quần áo ấm, trưa nóng thì có thể cởi bớt ra. Đặc biệt là với những bé ở nhà trẻ, sau khi trẻ nô, vã mồ hôi thì cô giáo cần lau sạch sẽ, tránh trẻ vừa nô xong, toát mồ hôi lại cho bé đi ngủ luôn ngay. Vì như vậy trẻ sẽ bị lạnh, dễ bị bệnh.

Ngoài ra, cha mẹ nên tắm cho con vào buổi trưa khi trời ấm, vì nếu tắm buổi tối, trẻ rất dễ bị nhiễm lạnh. Thời gian tắm cũng nên nhanh hơn, không được quá 15 phút.

VNE

Bé xước măng rô do thiếu chất gì?


Cháu nhà tôi được 10 tháng tuổi. Thỉnh thoảng ở tay, chân cháu có những vết rộp da và xước măng rô. Như vậy con tôi thiếu chất gì?

Cách khắc phục như thế nào? Rất mong được chuyên gia tư vấn. Tôi xin cảm ơn!
(Nguyễn Thị Bích - fangxanh128@...)


Trả lời:

Bé bị rộp da và xước măng rô có thể do nguồn nước ảnh hưởng đến làn da bé hoặc do cơ thể cháu thiếu vitamin C và acid folic . Hiện tượng này rất hay gặp và có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Chị có thể điều chỉnh một chút chế độ dinh dưỡng cho con. Cho cháu ăn thêm các loại quả giàu vitamin C như cam, quýt, bưởi, dưa bở, rau cải, mùi tây, dâu tây… Thực phẩm giàu acid folic như: Cá, các loại rau có màu xanh thẫm, hoa lơ xanh, gan động vật (bò, gà, lợn), các hạt nảy mầm (mầm lúa mì, mầm lúa, giá đỗ...).
Với phần da bong và xước măng rô chị có thể sử dụng bấm móng tay hay kìm bấm da tay để cắt tận gốc của phần da chết, tránh xé bằng tay dễ gây chảy máu, rất đau. Sử dụng kem bôi dành cho trẻ nhỏ làm mềm da bôi cho cháu để các vết xước mau lành.

Theo Afamily

Kiểm tra bao quy đầu cho bé


Đa số trẻ mới sinh đều hẹp bao quy đầu sinh lý. Khi trẻ lớn dần mới có sự tách dần giữa quy đầu và bao quy đầu. Vậy thế nào là hẹp bao quy đầu bệnh lý?

Bao quy đầu là phần da và niêm mạc che phủ quy đầu (phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở trong). Bên trong hai lớp da này được cấu tạo bởi mô liên kết gồm rất nhiều sợi chun giãn, đàn hồi.

Do đó bao quy đầu có thể lộn ra, lộn vào. Đến tuổi dậy thì, dương vật phát triển nhanh, to, dài ra thì bao quy đầu lộn ra ngoài. Hẹp bao quy đầu là hẹp lỗ quy đầu không cho phép lộn được bao quy đầu ra khỏi quy đầu.

Dấu hiệu trẻ bị hẹp bao quy đầu

Khi mới sinh, quan sát bằng mắt thường cho thấy đa số trẻ bị hẹp bao quy đầu sinh lý do chưa có phân cách giữa bao quy đầu và quy đầu. Khi trẻ lớn dần mới có sự tách dần giữa quy đầu và bao quy đầu. Có khoảng 96% trẻ nam sơ sinh bị hẹp bao quy đầu, nhưng lúc 1 tuổi còn 50%, lúc 4 tuổi còn 10%, và sau 17 tuổi chỉ còn 1% bị hẹp bao quy đầu.

Do vậy, các bác sỹ khuyên với bé trai nhỏ hơn 4 tuổi hẹp bao quy đầu nếu không có triệu chứng gì khác thì cần theo dõi, không nên nong bao quy đầu quá sớm vì dễ dẫn đến dính và sẹo xơ gây ra hẹp bao quy đầu thứ phát.

Những triệu chứng cần can thiệp của hẹp bao quy đầu như trẻ tiểu khó, khi tiểu phải rặn, đỏ mặt vì rặn, da quy đầu thường bị viêm nhiễm tấy đỏ…

Vì sao phải điều trị hẹp bao quy đầu?

Trẻ bị hẹp bao quy đầu làm cho nước tiểu đọng lại, dương vật phồng lên. Đi tiểu rất khó, nước tiểu đọng lại khiến bao quy đầu dễ bị viêm nhiễm, chất tiết đọng lại thành mảng trắng.

Khi trưởng thành, hẹp bao quy đầu sẽ gây đau khi dương vật cương cứng, thậm chí có một số trường hợp dương vật không cương cứng được.

Vì vậy, khi trẻ được hơn 4 tuổi mà có những triệu chứng của hẹp bao quy đầu bệnh lý thì cha mẹ cần cho trẻ đi khám để được bác sỹ can thiệp sớm.

Điều trị hẹp bao quy đầu

- Bôi thuốc steroid da quy đầu

- Nong nhẹ bao quy đầu bằng tay để tách dần bao quy đầu và quy đầu, thực hiện ngày hàng liên tục trong 4-6 tuần. Với trẻ nhỏ thì cha mẹ cần kiên trì nong giúp trẻ.
- Nếu thực hiện hai phương pháp trên không thành công thì phải tiến hành cắt bao quy đầu bằng kỹ thuật laser là thủ thuật rất nhanh chóng, ít gây đau, ít tốn kém.

Theo Afamily

Phòng bệnh viêm họng cấp ở trẻ em

Họng với nhiều chức năng sinh lý khác nhau như: nuốt, thở, phát âm, vị giác… là ngã tư đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của không khí, thức ăn và nước uống, cho nên là nơi rất thuận lợi cho virus, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh, đặc biệt là viêm họng cấp ở trẻ em.

Nguyên nhân gây bệnh thường

Bệnh viêm họng cấp chiếm tỷ lệ hàng đầu trong số lần khám tại các phòng khám nhi khoa. Bệnh xuất hiện do vi khuẩn như: phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng hay virus gây nên như: virus cúm, sởi… Nguy hiểm hơn cả là do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A gây nên, từ viêm họng dẫn đến biến chứng thấp tim, thấp khớp, viêm thận. Một số nguyên nhân khác cũng có thể làm cho trẻ em viêm họng như: do khói thuốc lá, do bụi bẩn, do môi trường sống của bé không trong sạch, do bị dị ứng mãn tính, hay do nhiệt độ phòng ngủ của bé không thích hợp…

Về triệu chứng, viêm họng cấp thường khởi phát đột ngột, sốt cao 39 - 40oC, kèm theo đó là nuốt đau, rát họng, khàn tiếng có thể kèm theo các triệu chứng khác như: chảy nước mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, trẻ mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ, hạch góc hàm sưng, đau… Với bé còn bú mẹ, viêm họng thường kèm theo bú ít hoặc bỏ bú, há miệng khi ngủ, bức rứt khó chịu và quấy khóc. Với trẻ lớn hơn thường kêu đau vùng họng, chán ăn nên dễ làm cho cha mẹ nhầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu khó chịu khi bé mọc răng…

Bệnh thường kéo dài từ 7 - 10 ngày là khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn dễ gây nên các biến chứng, nhất là vào tuần thứ hai, thứ ba như: thấp khớp, thấp tim, viêm cầu thận cấp, bệnh viêm tấy quanh amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm hạch mủ, nhiễm trùng huyết. Ở trẻ em, khi bị viêm họng cấp, ngoài những biến chứng kể trên, nguy hiểm nhất là có thể gây bệnh thấp tim, thấp khớp và viêm cầu thận ở trẻ em, do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A, từ viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp và cầu thận. Khi bị biến chứng viêm họng do liên cầu khuẩn, trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, khớp khuỷu và chạy từ khớp này sang khớp khác. Sưng khớp và khớp di chuyển là một yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim ở bệnh nhân. Và một biến chứng phổ biến nhất là chuyển từ viêm họng cấp tính trở thành viêm họng mãn tính, đây là cơ hội để bệnh tái đi tái lại nhiều lần.

Về điều trị, với em bé dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38ºC thì nên cần nhanh chóng được thăm khám, tốt nhất là bác sĩ chuyên khoa nhi, tránh tự ý điều trị, vì trẻ em sốt cao rất dễ đưa đến co giật, lau mát cho trẻ bằng nước ấm, tránh ủ nhiều quần áo, thực hiện đúng theo toa thuốc của bác sĩ, sau khi uống thuốc theo toa vẫn chưa đỡ, sau 24 - 48 giờ, bệnh không thuyên giảm thì cần nhập viện để theo dõi và điều trị.

Phòng bệnh được không?

Ông cha ta có câu “phòng bệnh hơn chữa bệnh” vì vậy, cần có giải pháp để phòng bệnh. Cần vệ sinh họng, răng, miệng hàng ngày như: đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng. Khi mắc bệnh răng, miệng, xoang, mũi... cần được điều trị dứt điểm tránh để mầm bệnh tồn tại và lây lan vào gây viêm họng. Khi viêm họng có chỉ định điều trị, cần thực hiện nghiêm túc, uống thuốc theo toa, đúng phác đồ kháng sinh được kê toa. Cần cho bé uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian, không được tự ý mua thuốc kháng sinh để điều trị vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng kháng thuốc, làm cho điều trị sau này gặp nhiều khó khăn do tình trạng kháng thuốc. Cần đeo khẩu trang cho trẻ khi ra đường để tránh khói bụi. Tránh cho trẻ uống nước quá lạnh hoặc quá nóng hay có thói quen ngậm kẹo hay ăn kem.

Với phòng ngủ, cần thoáng mát, nếu có điều hòa nhiệt độ cần giữ ở mức nhiệt độ mát mẻ dễ chịu, nhiệt độ lý tưởng cho trẻ là khoảng 24 – 26oC. Nếu sử dụng quạt, nên cho trẻ nằm quạt tốc độ lớn trong thời gian ngắn giúp trẻ dễ ngủ, sau đó giảm dần cường độ, quạt phải luôn được quay thay đổi hướng gió. Tập cho trẻ thói quen uống nhiều nước, tốt nhất là nước đun sôi để nguội, đánh răng sau mỗi bữa ăn, tập thể dục. Tập thói quen rửa tay trước khi ãn và rửa tay sau khi đi vệ sinh. Với trẻ nhỏ, nhất là trẻ nhỏ còn bú mẹ, cần thực hiện tốt chế độ nuôi dưỡng tốt, dinh dưỡng cân bằng đủ dưỡng chất, uống vitamin A đầy đủ theo hướng dẫn, tắm nắng chống còi xương, suy dinh dưỡng. Luôn giữ cho trẻ ấm áp, tránh gió lùa, tránh tập trung nơi đông người, tránh nơi môi trường bị ô nhiễm, khói bụi.

Đối với phòng bệnh thấp tim, cần được dự phòng bằng kháng sinh penicillin. Theo ước tính, có khoảng 5% trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp do liên cầu. Dự phòng bằng cách tiêm bắp, với liều duy nhất penicillin benzathin, với trẻ dưới 10 tuổi dùng 600.000 UI, trên 10 tuổi 900.000 UI. Hoặc có thể dùng penicillin V bằng đường uống với liều 200.000 - 250.000 UI, uống 3 hay 4 lần trong ngày, uống 10 ngày liền. Nếu bệnh nhi có phản ứng với penicillin thì cho uống erythromycin với liều 45mg/kg thể trọng trong một ngày, uống liền trong 10 ngày. Hiện nay vắc-xin chủng ngừa liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A đã thực hiện thành công, nhưng giá thành còn cao.

Theo BS.CKI. Trần Quốc Long - SKĐS